VIỆT NAM TRONG CON MẮT MỘT NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI

Một chuyến về quê

                                                 NGUYỄN HUỲNH MAI

 

Lời nói đầu

 

Với ước vọng tìm lại nhịp sống và hơi thở của quê mẹ cả nhà tôi “cơm ghe bè bạn” gói hành trang lên đường về thăm tổ quốc vào tháng Tư vừa qua trong gần ba tuần rảo từ quê ra thành thị và từ nam ra bắc. Những dòng dưới đây ghi lại một số quan sát tình cảm có mà ghi chú về nhân chủng học (như một loại sổ tay của hành trình) cũng có trong chuyến về nguồn đó. Nhiều chuyện xem như riêng tư nhưng thật ra chúng phản ảnh những mẫu những hình ảnh của đất nước và con người của một Việt Nam truyền thống đã và đang thay đổi.

 

 

Chú Lam

 

Người đầu tiên chúng tôi gặp tại thành phố Hồ chí Minh là chú Lam.

 

Chú Lam là một Việt kiều sang Bỉ học từ đầu 1970 sau đó lập gia đình đi làm giám đốc tài chính của một xí nghiệp lớn ở gần Liège. Các con của chú lúc bé đã có nhiều dịp chơi cùng với các cháu nhà tôi. Sáu mươi tuổi nghỉ hưu non chú về nước mua nhà với ý định vui thú điền viên những năm còn lại của đời.

 

Chú Lam đưa chúng tôi đi ăn ở một quán đặc sản ba miền nghe nhạc Trịnh công Sơn. Ngay buổi tối đầu tiên mới rời mùa xuân còn lạnh 14°C của châu Âu chúng tôi quần soọc áo ngắn tay đi giửa Sài gòn nóng 35°C ăn gỏi ngó sen tôm kho tộ và bánh cốm xanh  – như một lễ rửa tội để bắt đầu hoàn toàn một cuộc sống mới trong một môi trường  thật khác biệt nơi đi chốn về của chúng tôi bên trời Âu.

 

Sau bữa ăn chú Lam đưa con cả của tôi đi một vòng bằng vespa ban đêm giửa thành phố với gió lộng thổi trong tóc giới thiệu với cháu những khác biệt giửa Liège và Sài gòn giửa Sàigon hôm qua và Sài gòn hôm nay. Chú Lam giúp chúng tôi chuyển tiếp êm ái từ văn hóa này qua văn hóa khác để không bị ...sốc. Dù khác múi giờ chúng tôi cũng thức đến khuya đi chơi cùng chú... Đi chơi với chú Lam biết được Sài gòn hoa lệ.

 

Chú còn giúp chúng tôi cài  Sim cho điện thoại di động : chúng tôi thành khách hàng của Viettel và thấy mình là dân thổ địa thực sự.

 

Mấy ngày sau hôm nào chú Lam cũng nhắn hỏi xem chúng tôi có an lành không.

 

Tình người là cảm giác là ấn tượng chúng tôi giử của ngày đầu tiên về thăm quê mẹ.

 

Còn chú Lam là một trong những Việt kiều gần đây về sống ở xứ sở với lương hưu trí cao từ 20 đến 50 lần lợi tức một người trong nước. Ông cậu của tôi cũng thế 73 tuổi Việt kiều ở Pháp góa vợ ông về nước cưới một phụ nữ trẻ và hiện cũng sinh sống yên bình ở thành phố Hồ chí Minh ...

 

Đại gia đình

 

Ở châu Âu dù là gốc người Việt gia đình của chúng tôi là những gia đình hạt nhân chỉ có vợ chồng và con nhỏ – không có ông bà không dâu rể – thỉnh thoảng mới gặp lại ông bà hay anh chị em trong gia đình lớn.

 

Về Việt Nam thấy khác hẳn. Cả đại gia đình cả họ ở xúm xít gần nhau trong một khuôn viên như một xóm nhỏ nhà này cách nhà kia một mảnh vườn một con rạch hay một cái ao. Muốn gọi nhau chỉ cần ra vườn “ơi” lên một cái. Nghe chúng tôi về một ông chú họ tuổi gần chín mươi chống gậy sang để xem mặt các cháu chít nghe chúng nó nói tiếng Tây. Biết ba đứa cháu là bác sĩ thế là bên cạnh chuyện xưa cũ của mẹ của bà khung nhà cầu của nhà thờ ông sơ và ông cố thành phòng hỏi bệnh cho chị Tư cho mợ Sáu cho cô Tám ... Dì Cậu Mợ Chú Bác Ông Bà... các con cháu tôi chơi vơi vì nhớ không xuể cách xưng hô với mọi người.

 

Mỗi nhà có vườn lại có thêm cả trăm chậu kiểng các cháu tôi hỏi làm sao săn sóc tưới nước mỗi ngày – một lần nữa các cháu thấy những thuận lợi của hình thức đại gia đình (ông bà suốt ngày ở nhà chăm sóc cây kiểng không là một bó buộc mà là một tiêu khiển). Phía cuối vườn lại còn sự “hiện diện” của các phần mộ tổ tiên – người chết và người sống gần nhau thế ấy. Cái bàn thờ thiên trước sân cũng làm các cháu tôi ngạc nhiên vì ngoài thờ ông bà thờ Phật còn thờ trời : phải tới tận nơi mới thấu được các tục lệ tín ngưỡng của Việt Nam chứ đọc sách chỉ nghe mẹ  hay bà kể chẳng khác nào ... tập bơi trên cạn biết nhưng không hiểu và không cảm nhận hết cái sâu xa.

 

Thành viên nhỏ nhất của “đoàn” chúng tôi chưa tròn ba tuổi. Hành trang tiếng Việt của cháu chỉ có “Minh Tri” (tên cháu) “ạ” (để chào) hai từ “ông nội” và “bà nội” (cháu vẫn dùng để gọi chúng tôi) và hai tiếng “Việt Nam” (để giải thích cho cháu biết cuộc hành trình). Thế mà với năm từ đó cháu đã ... đối thoại với họ hàng và chinh phục trái tim của mọi người.

 

Tình người sâu đậm nó thể hiện qua tay bắt mặt mừng mà còn ở những món ăn thức uống họ hàng mang ra để tiếp đón chúng tôi mà phải tế nhị lắm chúng tôi mới giải thích được để không ăn hay uống hết các món.

 

Đời sống ở đồng quê bây giờ không thiếu thốn gì. Có điện có điện thoại có internet.  Lại rất thân thiện với môi trường : nhà nào cũng có giếng nước có máy bơm lên bồn gác trên cao để có áp suất cho nước chảy đi phân phối cả bếp và phòng tắm. Có luôn máy sưởi nước nóng bằng điện nếu cần. Rác thì chôn hay đốt.

 

Cách đây hơn nửa thế kỷ lúc sống ở đây tôi còn xài đèn dầu và hàng ngày mẹ tôi phải xách nước mưa châm vào cái lu sành trong nhà tắm để mọi người có thể làm vệ sinh.

 

 

 

 

Đô thị

 

Thế nhưng từ hơn thập niên rồi quá trình đô thị hóa tiến nhanh rất nhanh. Cái kiểu nói lẩy “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

                           người khôn người đến chốn lao xao ...” không còn ai thích nữa.

 

Giới trẻ ở thôn quê từ từ lên thành thị như thể bị lôi cuốn bởi ánh sáng và sự nhộn nhịp của phố phường.

 

Sài gòn có gần mười triệu dân Hà Nội tám triệu. Cao ốc mọc lên như nấm sau mưa. Người Sài gòn và Hà nội hảnh diện về bộ mặt hiện đại của thành phố. Nhưng đô thị hóa quá nhanh quá rộng lôi theo những tệ hại của nó.

 

Paris cũng mười triệu dân Séoul còn gấp đôi số ấy nhưng Paris và Séoul có nhiều không gian cổ kính và không gian xanh lại có hệ thống xe điện ngầm tốt  ... 

 

 

Chúng tôi ở Sài gòn mấy ngày ra Đà Nẳng rồi ra Hà Nội. Mỗi ngày tìm cách ghi nhận nghe thấy nhiều chừng nào tốt chừng ấy những gì mình có thể ghi nhận được của quê nhà vì  không biết bao giờ mới trở về thăm lại lần nữa. Dưới đây là một số  quan sát của chúng tôi về vật chất cũng như về tâm linh hay tình người ở những đô thị..

 

 

Ô nhiểm môi trường

 

Tiếng ồn.

 

Mang một máy đo décibel ra đường ban ngày ở các thành phố lớn trong nước máy sẽ chỉ 50-60 décibels. Quá tải của giao thông không cần phải nói nữa. Các cao ốc trong thành phố tạo ra những thung lũngvới đường xe chạy ở giửa không cho phép tiếng ồn loãng ra. Khoa học chấp nhận ngưởng ồn 50-60 décibels này nó chưa đến nổi gây điếc nhưng điếc hay không là còn tùy thuộc thời gian chịu ồn và độ nhạy cảm của từng cá nhân. Xin nói thêm rằng ở độ ồn đó thông thường con người không ngủ được hay chỉ chập chờn giấc ngủ nông (stade 2) chứ không ngủ sâu được (stade 3-4 và REM sleep). Mà không ngủ sâu thì không tái tạo được sức lực sẽ bất lợi cho khả năng lao động không ngủ REM không mơ   nhất là nơi các em nhỏ thì không phát triển tốt bộ não người lớn thì không bớt mệt tinh thần ...

Cũng may là ban đêm tiếng ồn giảm đi. Nhưng đêm ở các thành phố ta ngắn (từ 11 giờ tối đến  5 giờ sáng).

 

Rác và nước

Bất cứ ở đâu trên các cỏi ở Việt Nam rác là một vấn đề : trước cửa nhà sau hè bên cạnh các hàng quán ở chợ trong công viên trên đường và nhất là trên các kinh rạch. Con người từ lớn đến bé có vẻ như quen với rác và “sống chung hòa bình” với chúng quen chịu đựng không tưởng tượng rằng đấy là một nguồn của bệnh tật.

 

Một số kênh rạch ở thành phố HCM chẳng hạn rỏ ràng trở thành những cống rảnh lộ thiên nước đen ngòm và bốc mùi khó chịu. Khi trời mưa trẻ con và người lớn đi như lội trong nước nước mưa và nước cống nước này tràn ngập vào các nhà lân cận ...

 

Thậm chí ta có thể nói rác và nước dơ chỉ vắng bóng trong các cơ ngơi cao cấp nhà nước và trong các khách sạn 5 sao !

 

 

Không khí

Nhà văn Nguyễn ngọc Tư viết về cái thiếu thốn vòm trời ở các thành phố lớn trong nước (Trời ở nơi nào ta ở đây).  Khói xe khói của các cơ sở sản xuất tiểu công nghệ bụi đường phố ... làm thành một hổn hợp khó ... ngữi. Thảo nào nhiều người mang mặt nạ ngoài đường. Lại không có nhiều công viên khoảng xanh cần thiết cho mắt cho tinh thần và cần cho buồng phổi nữa.

 

 

Bất cứ nhà dịch tể học nào sang Việt Nam cũng phải tự hỏi không biết hệ miễn dịch của dân ta giỏi thế nào mà chúng ta đã không có những dịch bệnh hoành hành ...

 

Chúng ta đang rất cần nâng cao hiểu biết về vệ sinh cho quảng đại quần chúng. Chẳng những để ngừa những dịch bệnh có thể mà còn để nâng cao chất lượng sống của dân tình.

 

 

 

Sống hay sống còn ?

 

Nhìn những người giao thông ngoài phố len lỏi chèn nhau để đi đăm chiêu canh phía trái phía phải bóp còi ... làm ta  nghĩ là họ đang vật lộn với cuộc sống để tồn tại. Chẳng lý ra chiến tranh kinh tế nó nặng hơn chiến tranh quân sự ? Độc lập thống nhất từ hơn ba mươi năm nay nhưng hòa bình và yên ổn tinh thần chưa trở về cho dân chúng. Dân ta chưa thoải mái trong cuộc sống hàng ngày.

 

Sau mỗi buổi đi dạo phố tôi hú hồn trở về khách sạn mừng vì mình chưa bị xe chẹt chết !

 

Cái lèn lỏi  vô trật tự của giao thông có thể là kết quả của nhiều yếu tố : chẳng những vì đường hẹp xe đông  mà còn là do thói quen của thời bao cấp phải bương chải vật lộn để sống. Kèm theo đó kẻ mạnh hiếp kẻ yếu là cách đối xữ thời phong kiến tiền công nghiệp. Cái khổ là ta đang ở thời hội nhập công nghiệp chắc là phải mau mau thích ứng với thời đại giử trật tự các luồn giao thông tuyệt đối dừng lại ở đèn đỏ tôn trọng người đi bộ không bóp còi vô ích ...

 

 

Những bất ổn trong giao thông cũng đi từ  nhiều quy hoạch thiếu tầm nhìn : cho phép xây dựng cao ốc   mở mang đô thị tức là tăng dân số nhưng không dự trù hạ tầng thiếu đường và chỗ đổ xe nhất là trong một viễn ảnh phát triển lợi tức dân chúng càng ngày càng cao thì số xe tăng lên là một điều tiên đoán được. Nhiều vĩa hè bây giờ thành chỗ đậu xe và người đi bộ phải tranh lấn với xe cộ trong lòng đường. Ở đây người dân cũng phải bương chải để không “bị dòng xe lôi đi chết đuối” - một cách “sống còn” -  lâu dần thành thói quen. Ngay tới trong nước ta nói về “văn hóa giao thông” tới những hình thức chen chẹt như những mẫu xử lý trước tình huống ngoài đường phố – cách gọi ấy cũng đúng thôi.

 

 

 

Sống còn trong sản xuất kinh tế

 

Đi từ Sài Gòn ra Hà nội thấy bán buôn nhan nhản khắp nơi nhất là bán buôn mà tôi gọi là thương mại nhỏ (hay thất nghiệp trá hình ?) : một tủ với hai ba chục lon nước vài loại bánh ... đã là một cửa hàng -  thương mại sống còn chứ không phải thương mại kinh doanh. Cửa hàng lại phục vụ hầu như suốt ngày và đêm (các chuyên viên về giấc ngủ xem số giờ ngủ của dân như một chỉ số của chất lượng sống – dân ta trung bình ngủ bao nhiêu giờ mỗi đêm ?).

 

Rất nhiều cửa hàng dịch vụ – từ sửa xe hàng ăn uống áo quần vi tính điện thoại đến du lịch giấy tờ ngân hàng chuyển nhượng nhà đất ... còn sản xuất tiểu công nghệ hầu như vắng bóng. 

 

Dịch vụ thôi chưa đủ. Muốn cho kinh tế thực sự phát triển ta còn cần cho ra đời nhiều sản phẩm cụ thể qua những hình thức kinh tế bền vững hơn là kiểu buôn bán một sớm một chiều.

 

Tiếc là chúng tôi không có dịp thăm các khu công nghệ. Chỉ biết qua báo chí là mức sống của nhân viên các khu công nghệ còn khó khăn.

 

 

 

 

Bất bình đẳng xã hội : vài thí dụ tượng trưng

 

Các xe to trong thành phố và cái gánh khiêm tốn của người bán hàng rong. Có  những người mặc những bộ cánh hàng hiệu giá bạc nghìn đô la có người khác vẫn còn mang đôi dép bằng nhựa.

 

Trong ngôn từ cả ngoài phố và trên các kênh truyền hình tiếng gọi cũng khác nhau : “Chị” hay “Anh” khi người đối diện làm lao động chân tay còn  “Ông” và “Bà” khi nói chuyện với những người giàu sang và có bằng cấp cao.

 

Không nói tới những bát phở thịt bò Kobé hay nhà hàng Long Đình chúng tôi vào một café trong khuôn viên Bảo Tàng lịch sữ : hóa đơn cho một  ly kem và một cốc cà phê là 240.000 đồng  - thảo nào chung quanh chúng tôi khách toàn là dân ăn mặc sang trọng -  Còn nếu mua một một cây kem ngoài phố thì chỉ 7 - 10.000 đồng.

 

Lương tâm nghề nghiệp

 

 

Điển hình về lương tâm nghề nghiệp là chuyện một gia đình người bán mì ở Chợ lớn một gia đình từ ba thế hệ ông ngoại truyền mẹ nối rồi con cái đi theo. Cả nhà đảm bảo tất cả các khâu sản xuất mì nấu nước lèo chuẩn bị nguyên vị phục vụ thực khách cho đến việc lo bảo quản vệ sinh. Họ không giàu nhưng ...sung sướng hạnh phúc khi nói về nghề nghiệp của họ. Ánh mắt họ ngời lên niềm tự hào của một công việc được thực hiện chu đáo.

 

 

Muốn có lương tâm nghề nghiệp thì trước nhất phải có ý thức định nghĩa nghề nghiệp của mình biết mình phải làm gì làm thế nào làm cho ai tại sao ...

 

 

Trái lại khi việc đi làm thu gọn vào chủ đích kiếm kế sinh nhai lương tâm nghề nghiệp thành một khái niệm hoàn toàn vắng bóng. Một chiêu đải viên hàng không vô lễ với khách một tài xế taxi ăn gian đi vòng vo để được thêm tiền mà không nghĩ đến việc làm mất thì giờ của khách một nhân viên khách sạn chỉ săn sóc khách để được tiền trà nước một người bán hàng cân thiếu hay nói thách để bắt bí người mua một nhân viên y tế hách dịch với bệnh nhân ... Đó là một vài thí dụ chúng tôi mắt thấy tai nghe trong thời gian về thăm nhà.

 

 

Ngày xưa vấn đề lương tâm nghề nghiệp không cần thiết lắm vì trong cả một xã hội nông nghiệp tự cung tự cầu không có nhiều nghề. Thầy giáo và lương y được xã hội trọng vọng và vị thế đó “bắt” họ phải xử sự sao cho xứng đáng. Liên hệ xã hội lại được ràng buộc bởi tình người (thương người như thể thương thân) bởi  những tin tưỡng nhân quả (làm tốt hầu để đức cho con) ... Ở thôn quê sự kiểm soát xã hội cao (mọi người đều biết nhau từ đời ông đời cháu) nên tất cả ai cũng phải  “tử tế” để giử chữ “tín”. Bây giờ ở đô thị cuộc sống xô bồ mất liên hệ xã hội tiền bạc cao hơn lễ nghĩa mặc tình lừa gạt lẫn nhau nói chi đến lương tâm nghề nghiệp !

 

 

Hiện nay đòi hỏi lương tâm nghề nghiệp cũng khó : lương không đủ sống vật giá cái gì cũng mắt mỏ môi trường bon chen tranh lấn. Lương trung bình cũa những người chúng tôi gặp là khoảng trên dưới 3 triệu mỗi tháng thế nhưng chỉ riêng tiền học cho một trẻ ở tiểu học cũng đã hơn 1 triệu. “Bương chải” “trồng tréo” là tiếng trên đầu môi của một số người.

 

Phía sau vấn đề lương tâm nghề nghiệp là cả một hệ đạo đức xã hội.

 

 

Mặc cảm tự ti và mặc cảm tự tôn

 

Một nghìn năm đánh giặc Tàu gần một thế kỷ để thoát bảo hộ của Pháp ba mươi năm chống Mỹ ... xưa hay nay dân Việt Nam có nhiều lý do để hảnh diện về truyền thống của cha ông.

 

Thế nhưng mặc cảm tự tôn (tiếng Pháp complexe de supériorité hoặc khái niệm theo xã hội học   ethnocentrisme – có nghĩa là xem văn hóa mình là tốt nhất còn các văn hóa khác là thua kém - ) là một phản ứng có thể làm ta mù quáng xem cái gì của mình cũng là “số dách” và từ chối các nhận xét kể cả những nhận xét tích cực. Mặc cảm này hầu như hiện hữu nơi đại đa số người có quyền hiện nay. Một giáo sư Đại học về khảo cổ  từ chối không thấy những mất mát trong việc làm mới thay vì trùng tu di tích một thẩm phán bảo vệ hết mình việc tập trung hành pháp và tư pháp một nhạc sĩ lớn lên sau 1975  hết lòng ca tụng trào lưu tân nhạc hiện thời và bài bác nhạc thời Mỹ ngụy ... Đó là chưa nói tới truyền thông của các cơ quan nhà nước chỉ đưa ra những thành tựu vĩ đại đã thu thập được. 

 

 

Bên cạnh đó xu hướng trọng ngoại cũng ... thịnh hành : cái “mát” Hàn quốc Singapore Mỹ ... được xem như là “thượng hạng” là  “đẳng cấp” từ áo quần khăn trải giường đồ gia dụng bánh ngọt rượu mỹ phẩm ... Rốt cuộc : phải cao như Tây phải trắng như người Hàn quốc phải nhuộm tóc đủ màu ... Hết rồi những ca ngợi cho tà áo trắng giản dị của nữ sinh Gia Long hay cho mái tóc thề của các cô trường Đồng Khánh !

 

Đi ra nước ngoài cũng là giấc mơ của một số người trẻ tôi gặp : ra nước ngoài để học để học thêm để kiếm sống để đổi đời. Tại sao như  vậy nhỉ ? Cuộc sống của người tha hương đâu phải là cuộc sống ở thiên đường. 

 

Tại sao phải so sánh ? Tự tôn hay tự ti đều là mặc cảm cả tức là ... có vấn đề. Tại sao ta không yên ổn sống với mình bên cạnh người khác mà không bài ngoại hay trọng ngoại tự ti hay tự tôn ?

 

 

 

Bốn chữ P : Public Privé Profit Publicité   -  Công Tư Lợi nhuận Quảng cáo

 

Bốn chữ đó lẫn lộn với nhau liên đới hổ tương mà rốt cục người có thể bị nhầm lẫn là người dân :

 

. công nhân viên chính phủ người cầm quyền trong guồng máy có một số lợi

. kinh doanh tư gặp thời cũng có thể giàu to

. dù là công hay tư đi làm là cốt để được vinh thân – khái niệm giúp nhà giúp nước chắc đã hết hiện hành cho một số đông -

. quảng cáo có mặt nhan nhản khắp nơi. Nhất là trên các kênh truyền hình.  Quảng cáo thật và quảng cáo trá hình qua các bài báo và qua cửa miệng của người có uy tín kể cả những giáo sư bác sĩ.

 

Gia đình chúng tôi cũng toàn là giáo sư bác sĩ nên chúng tôi cảm thấy có liên hệ khi một đồng nghiệp vô tình hay cố ý nói tên hay giới thiệu một sản phẩm nào đó.

 

Kinh tế thị trường dựa trên quảng cáo nhưng dân tình có thể chưa đủ cảnh giác để phân biệt đâu là sự thật và đâu là quảng cáo. Việc này có thể tai hại nhất là cho một số quảng cáo thuốc (câu ghi thêm bên dưới bảo rằng đấy chỉ là thực phẩm chức năng thường không có tác dụng và các nhà quảng cáo biết rất rỏ điều này).

 

Công hay tư đều dùng quảng cáo / truyền thông để bảo vệ cho quyền lợi hay tính chuyên chính của mình nên rốt cục người dân là người bị lôi kéo ảnh hưởng.

 

 

Tạm kết luận

 

Vĩ mô hay vi mô chuyện của xã hội hay chuyện của từng người. Ba tuần không cho phép chúng tôi biết hết hiện tình Việt Nam. Nhìn trở lại thời bao cấp cách đây ba mươi năm nước nhà đã đi những bước bảy dậm. Đổi mới mở cữa kinh tế thị trường ... đã mang lại nhiều thay đổi.  Cái cần là phải tiếp tục cảnh giác để phúc lợi đến cho mỗi người nhất là cho những trẻ em hiện ở tuổi mầm non.

 

Tiềm năng của Việt Nam to lớn. Về tài nguyên thiên nhiên cũng như về khả năng nhân sự. Nhưng cần quản lý tốt  để phát triển hài hòa và bền vững.

 

Chúng tôi trở về châu Âu ấm tình người mặc dù trong lòng còn trỉu nặng những lo lắng cho tương lai.

 

 

 

Nguyễn Huỳnh Mai (Liège Bỉ)

Bạn cũ

Tự chịu trách nhiệm

Tự chụi trách nhiệm
là cơ sở căn bản của biểu hiện tinh thần yêu nước
Bạn cũ
Hồi còn đi học chúng ta được nhà trường dạy: Yêu nước gắn liền với yêu CNXH. Lớn lên chúng ta nhận thấy bất cứ người nào ở cương vị lứa tuổi nào nếu có tinh thần ý thức tự chịu trách nhiệm thì người đó có tinh thần yêu nước thật sự.
Tinh thần tự chịu trách nhiệm được thể hiện từ ý nghĩ lời phát ngôn đến hành động thường ngày. Ở gia đình nếu người lớn chủ động xin lỗi con cái khi thấy mình ứng xử chưa chuẩn mực ở trường học người thầy giáo chân thành xin lỗi học sinh về một phương pháp giảng dạy mà bản thân tự thấy chưa phải là phương án hay nhất ở công sở và trên các diễn đàn các vị lãnh đạo biết xin lỗi và tự nhận lấy sai sót một cách thành tâm... thì chúng ta sẽ có được một xã hội lành mạnh và văn minh.
Khi mỗi cá nhân có suy nghĩ có ý tưởng phát ngôn và hành động được kiểm soát bằng lí trí và phông văn hóa chuẩn thì chúng ta thể hiện được tinh thần yêu nước. Khi mỗi cá nhân biết ý thức được trách nhiệm về điều mình tư duy lời mình nói và việc mình làm thì chúng ta có được một công dân văn minh cơ quan nơi cư trú xã hội sẽ có một tấm gương tốt để mọi người noi theo và kính trọng. Dám chịu trách nhiệm về tất cả những gì mình nghĩ và làm thì mỗi người đã tự giác kiểm soát được bản thân nghiêm túc với chính mình và tất yếu sẽ biết tôn trọng cộng đồng.
Ngược lại những người không kiểm soát ý thức được ý nghĩ lời nói việc làm nhất là không đủ dũng cảm để tự chịu trách nhiệm thì sẽ gây nên những tổn thất hậu quả khôn lường cho xã hội. Nạn tham nhũng chạy chức chạy quyền buôn gian bán lậu...đều có nguồn gốc từ sự thiếu ý thức trách nhiệm với xã hội với quốc gia giống nòi. Không có ý thức tự kiểm soát bản thân sẽ không biết tôn trọng người khác coi thường pháp luật bất chấp luân thường đạo lí. Ở phạm vi nhỏ loại người này dễ đánh mất niềm tin ở những người xung quanh nếu ở tầm quốc gia thì những người thiếu tinh thần tự chịu trách nhiệm dễ gây nên nỗi nhục quốc thể làm cho người nước ngoài coi thường hiểu nhầm về con người và văn hóa người Việt.
Những người lớn tuổi những người có địa vị xã hội nếu cứ hứa thật nhiều nói thật nhiều nhưng làm chẳng được bao nhiêu thậm chí làm trái với điều đã hứa tất yếu gây nên những tổn thất rất lớn làm cho gia đình bất hòa xã hội bất an quốc gia bất phú cường. Chúng ta thường nghe câu nói nghiêm khắc với chính mình và bao dung với người để được người đối xử bình đẳng. Chúng ta cũng nên nghĩ thêm: Nghiêm khắc với chính bản thân mình có trách nhiệm chia sẻ với cộng đồng nhân loại cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước của con người Việt Nam hôm nay.
Có ý thức tự chịu trách nhiệm chúng ta sẽ đủ dũng khí để đấu tranh chống lại cái ác cái phản tiến bộ và có ý chí bản lĩnh để bảo vệ chân lí tôn trọng danh dự và lợi ích của người khác của quốc gia khác. Mỗi công dân có tinh thần dám chịu dám làm trung thực với chính mình và bao dung với người khác sẽ thấu hiểu và chia sẻ có hiệu quả nhất đối với cộng đồng và nhân loại. Nhìn sâu vào lịch sử dân tộc những câu nói tự chịu trách nhiệm của Thái sư Trần Thủ Độ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn...hay những hành động dũng cảm từ chức thậm chí tự tử của các chính khách nước ngoài luôn được dư luận cảm phục kính trọng có sức lay động và cảm hóa lòng người hơn bao giờ hết. Những người có tinh thần tự chịu trách nhiệm là người có thần kinh xấu hổ. Biết xấu hổ cũng là biết yêu nước. Tiếc rằng hiện nay nhiều người có địa vị xã hội cao lại thuộc loại người không có thần kinh xấu hổ.

TQ Đại

Cảm ơn thầy em đã đọc và đang suy nghĩ.

Trần Đình Trợ

Mình mới vết bài về Đồng Lộc vì băn khoăn về rất nhiều thứ ở đó. Đại có thể giải đáp giúp đôi điều được không ?