Văn hoá đối xử của người Tây Âu?

By Trần Quang Đại

Văn hóa đối xử Tây Âu ?

                                                                                 NGUYỄN HUỲNH MAI

Lời giới thiệu: Cổ nhân có câu “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Bây giờ internet là một loại phương tiện đặc biệt giúp con người  ngồi một chỗ vẫn có thể ngao du thế giới. Trông từ xa từ bên ngoài vào chúng ta sẽ thấy những nét mới của văn hoá Việt  Nam cả cái hay và cái dở. Xin trân trọng giới thiệu bài viết của cô Nguyễn Huỳnh Mai một nhà giáo lão thành đã sống và làm việc nhiều năm ở Bỉ. “Biết mình biết người…” từ góc nhìn về văn hoá Bỉ của cô chúng ta sẽ hiểu hơn về văn hoá Việt Nam. Xin chân thành cảm ơn cô và chúc cô sức khoẻ.

 

Lời nói đầu

 

 

Trình bày về văn hóa đối xử Âu Tây trong một bài ngắn không giản dị :

 

1. Chỉ riêng ở châu Âu có nhiều khác biệt : dân Bắc Âu   ở  Thụy điển hay Phần Lan không  cư xử như người miền Nam người Ý hoặc người Tây ban Nha. Văn hóa  Pháp khác văn hóa Đức đó là chưa nói đến trường hợp của người Anh : vị trí địa lý ở đảo riêng thành ra lối sống và cách đối xử cũa họ cũng khác. Ngay trong một nước như Pháp dân Breton ở miền Bắc có nhiều nét văn hóa khác dân Auvergnat ở miền Nam : trong ngôn ngữ chẳng hạn nhiều khi họ không hiểu nhau dù nói cùng một thứ tiếng (vì những từ địa phương và giọng nói đặc thù).

 

 

2. Nước Bỉ chỉ có 10 triệu dân nhưng dân ở miền  Nam thuộc văn hóa và ngôn ngữ Pháp dân miền bắc thì thấm nhuần văn hóa Hà Lan có gốc Đức nói tiếng Hà Lan. Trong mười triệu dân Bỉ   trên một triệu là dân nhập cư (nếu kể cả những người mang quốc tịch Bỉ nhưng gốc nước ngoài thì con số này vượt quá 3 triệu tức  là khoảng 30% dân số) từ nhiều nguồn gốc tạo ra nhiều ảnh hưởng hổ tương có những gia đình gồm nhiều quốc tịch gốc khác nhau. Với tác dụng của  toàn cầu hóa thêm vào nhiều món ăn mới xa lạ trở thành “cơm bữa” của người Bỉ : pizza pita couscous chả giò tôm chiên bột gà nấu cà ri ... Và ngay đến trong ngôn ngữ các chữ như “nem” “nước mắm” “nhà quê” của tiếng Việt bên này ai cũng hiểu và trăm ngàn chữ từ các thứ tiếng khác .  Chưa đến nổi thành văn hóa  “hiệp chủng” như nước Mỹ nhưng không ai dám nói và viết về một văn hóa thuần Bỉ.

 

Mặt khác văn hóa tại Bỉ cũng như bất cứ một văn hóa của vùng nào khác không phải bất di bất dịch mà luôn thay đổi bởi những lý do nội tại cũng như những lý do từ bên ngoài mang đến. Giá trị của bài viết này bị giới hạn đó.

 

 

3. Lại không có một văn hóa đối xử  mà  có nhiều cách xử sự  của từng giai cấp khác nhau. Cùng là người Bỉ – nghĩa là không nói đến thành phần dân nhập cư – người trưởng giả không sống ăn nói  và đối xử  như giai cấp trung lưu hay thợ thuyền. Từ khoảng ba mươi năm nay thành phần giai cấp không còn rỏ rệt như xưa các nhà xã hội học từ bỏ khái niệm giai cấp và thay vào bằng  “những nhóm xã hội” khác nhau theo nghề nghiệp – văn hóa của các nhóm này mang nhiều điểm đặc thù của nhóm...  

 

 

4. Trình bày về văn hóa cũng phải đặt giới hạn và chủ đích của mình :

 

a. để hiểu về văn hóa người hầu nhìn lại ta và từ đó   thu thập như thế “biết người biết ta “?

 

b. chỉ để đủ xoay sở trong một chuyến du lịch hay cho những bước đầu khi mới đến nước người cho bớt  bở ngở ?

 

Bài này thiên về chủ đích thứ nhất. Tôi sẽ phân tích văn hóa tạm thời gọi là Âu Tây xuyên qua bốn tầng khác nhau

 

           những biểu hiện cụ thể và cách cư xử hàng ngày

           những qui ước xã hội

           những giá trị chung của xã hội

           những điều tuyệt đối cấm kỵ và thế giới của đạo đức

 

Cấu trúc của bốn tầng này liên hệ chặt chẻ với nhau. Hệ thống đạo đức xã hội được qui ra thành nhiều giá trị chung từ đó xã hội đặt ra những “luật lệ” cụ thể ... các thành viên trong xã hội từ đó cư xử với nhau trong bối cảnh ấy.

 

Phân tích như thế được  cái ích lợi trước mắt  là ta sẽ  hiểu rỏ hơn để tránh kiểu hợp lưu văn hóa phiến diện mà điển hình nhất là trường hợp một số phụ nữ Á châu ăn mặc như kiểu những “người đàn bà dễ dãi” vì tưỡng rằng như thế là theo thời trang Âu Tây.

 

 

5. Bài này tránh trừu tượng không dài dòng với những định nghĩa lý thuyết mà cái chính là dựa trên nhiều thí dụ cụ thể để dễ tiếp cận và dễ thấy những ứng dụng hay so sánh cần thiết  với những mẫu văn hóa khác ... Tôi cũng không bàn đến các tác giả và những lý thuyết cũa họ về văn hóa.  Cuối cùng tôi cũng không nói đến những hiện tượng xâm phạm văn hóa hay những trường hợp phi văn hóa.

 

 

 

Tầng 1 : Vài cách cư xử hàng ngày

Văn hóa là những trả lời mà cộng đồng xã hội đã sáng chế ra để trả lời một cách hửu hiệu nhất trong một hoàn cảnh nào đó.

 

Thí dụ cổ điển và giản dị  ? Tây dùng dao nĩa trong khi ta dùng đủa để ăn.

Làm sao dùng đủa được khi thịt chưa được cắt nhỏ từ trong bếp và các món ăn được bày trên đĩa chứ không trong chén.

 

Đưa thí dụ này tôi cũng muốn nhấn mạnh ở chỗ các văn hóa khác nhau - vì hoàn cảnh  khác nhau nên cách làm khác nhau - nhưng không có văn hóa nào hay hơn khôn hơn hay cao hơn văn hóa khác.

 

 

 

Ta đi qua  vài thí dụ nữa  :

 

Xin chúc một ngày đẹp ...

 

Dù không cúi rạp 90 độ như người Nhật bản hay người Hàn quốc một trong những chi tiết làm du khách ngạc nhiên trong liên hệ xã hội hàng ngày tại Bỉ là lời chúc một ngày đẹp và thăm hỏi sức khỏe như cái cầu nối đầu tiên của liên hệ xã hội  : lên xe buýt gặp ông phát thư và dĩ nhiên khi gặp người láng diềng bạn đồng nghiệp bà con trong gia đình cha mẹ hay thầy cô ở trường. Lớn nhỏ đều chào nhau bắt tay nhau hay kề má hôn nhẹ.

 

Hình thức tải nội dung. Tiếng chào và hỏi thăm sức khỏe gần như là máy móc nhiều khi người ta không chờ đợi câu trả lời nhưng “tiếng chào cao hơn mâm cổ” hàm chứa ý tôn trọng người đối diện và để bắt đầu liên hệ.

 

 

Xin lỗi cảm ơn xin vui lòng :

 

Trẻ con được dạy ba tiếng đó như những “chữ thần diệu” từ lúc lên hai lên ba không nói những mots magiques thì có dậm chân khóc thét thì cha mẹ cũng làm ngơ  ... Kết quả về lâu về dài thành :  đưa tiền cho cô thu ngân cũng nói “xin vui lòng” trò đưa bài làm xong cho thầy cũng được thầy “cảm ơn” và ai cũng “xin lỗi” khi phải đi qua bên cạnh hay vượt qua người khác (dù không đụng họ tôi cũng đi sát vào “vùng lãnh thổ”  hay là “vùng bình an” của họ).

 

Áp dụng thử điều này trong giao thông ở các thành phố lớn bên nhà ta sẽ ... tạo ra những bản đồng ca vĩ đại  “xin lỗi” “xin lỗi” “xin lỗi” “xin lỗi” ... trên đường phố suốt ngày ! Xin lỗi lại chữ thần diệu đó tôi chỉ đùa tí thôi. Rối loạn giao thông vì đường phố quá tải thậm tệ   đi  bừa hay leo lên lề là “sáng chế” của dân ta trong tình cảnh đó – không hẳn là lỗi của họ đâu nhé.

 

 

 

Xin hẹn và đúng giờ

 

Trong danh sách những điều “lý thú” của văn hóa ứng xử Âu Tây ta hay nêu lên việc cha mẹ muốn đến thăm con cũng phải xin hẹn –  xin suy nghĩ một phút : dù là con cái thật đấy nhưng xin hẹn là một vấn đề thực tiển : không báo trước chúng bận việc vắng nhà ta có đến mất công tốn thì giờ mệt nhọc cũng chỉ có cổng kín then gài không ai đón tiếp. Công nghiệp nó bắt buộc thế ấy chứ không phải con thất lễ hay không tôn trọng cha mẹ.

 

Đúng hẹn cũng nằm trong trường hợp đó. Vì những bó buộc của sinh hoạt thời hậu công nghệ nên phải thế. Xe bus và xe lữa cũng đúng giờ. Năm rồi ở Bỉ chỉ có 4% xe lữa trể giờ – thế mà các tổ chức người đi xe lữa cũng bắt hảng xe đền bù thiệt hại.

 

 

Lịch sự  ở các công sở và trong giao tiếp với những người ... có quyền

 

Bác sĩ tận tụy nghe chuyện bệnh nhân (theo một nghiên cứu gần đây thời gian dành cho mỗi bệnh nhân chao từ 15-45 phút tùy theo chuyên khoa). Ở Bỉ mật độ của số cung y tế  là 1 bác sĩ cho 241 người dân.

 

Cảnh sát không nói to tiếng với phạm nhân thẩm phán công tâm thi hành bổn phận (cũng có những phiên trực y như bác sĩ vì có thành ngữ nói rằng “nếu mèo vắng nhà chuột sẽ tha hồ nhảy múa” hoặc “trời tối thì chồn sẽ xuất hiện” kẻ gian có thể hành động bất cứ lúc nào !). Quan hệ là quan hệ kỷ thuật nghề nghiệp chứ không phải là quan liêu hay tình cảm.

 

Giáo sư giáo viên có bổn phận phải chứng minh cách chấm điểm của mình trả lời thư điện tử của học trò khi chúng gặp khó khăn hay không hiểu bài ...

 

 

Thêm một truyện cụ thể : hôm qua tôi ra Toà thị sảnh của thành phố để xin hộ chiếu nhân viên ở đấy đã niềm nở tiếp đón tôi tận tình chỉ dẫn chỗ cho tôi đi chụp hình còn hỏi thăm tôi định đi đâu và nói đùa giởn chơi một cách thân mật trong lúc chờ bản in. Mười lăm phút với bà ấy tôi thoải mái. Thủ tục hành chính rườm rà khổ lắm rồi tại sao không biến chúng thành “nhẹ nhàng” hơn tí ? Những “chất lượng thêm vào” ấy không làm mất thì giờ  mà gây dễ chịu hơn cho mọi người.

 

Công nhân viên thường phải theo học những khóa về giao tiếp khi nhiệm vụ của họ phải tiếp xúc với  người khác. Nghĩa là những cái “nhẹ nhàng” “lễ phép” “vui vẻ phục vụ”  ấy không hẳn là tình cảm mà có thể chỉ thuần “kỷ thuật”.

 

 

 

Phân chia công việc trong nhà

 

Trong đại đa số gia đình ở Bỉ hiện nay bà mẹ quản lý ngân quỷ   cha và mẹ cùng nhau làm việc nhà (mẹ 60-65% tổng lượng việc nhà cha 35-40% ) các con và cha mẹ có những liên hệ đa dạng (tình cảm kinh tế có kính nể nhưng có tôn trọng hổ tương và dân chủ - quyền của trẻ em được nhìn nhận từ 20 năm nay -) .

 

 

 

Bạo hành với phụ nữ và bạo hành với con trẻ

 

Hiện tượng này vẫn còn nhưng định nghĩa của bạo hành rất rộng. Không phải chỉ bạo hành thể xác mà đối xử “nặng” với phụ nữ hay với trẻ con về tinh thần áp đảo gây lo sợ bất an cũng không được. Trong định nghĩa rộng như thế thì ở Bỉ có khoản 5-10 % phụ nữ và trẻ em khai là nạn nhân  của bạo lực gia đình (Theo Tổ chức Y tế Thế giới số phụ nữ và trẻ con bị bạo hành tùy theo vùng lãnh thổ lên tới  từ 15 đến 70%  - cũng theo định nghĩa rộng).

 

 

Nhà ở

 

Có một thành ngữ bảo rằng “người Bỉ có viên gạch trong bụng” :  hơn 70% dân Bỉ là chủ của nhà họ phần lớn là nhờ vay trả góp trong 20-30 năm – làm chủ của ngôi nhà mình giúp bảo đảm yên ổn và độc lập . Nhà ở là thành lủy của thế giới riêng tư  để họ có thể sống cho cá nhân và sinh con đẻ cái nuôi dạy trẻ ...là nơi của liên hệ thuần tình cảm. Thông thường mỗi  thành viên trong gia đình có phòng riêng cha mẹ trước khi vào phòng con cũng gỏ cửa tôn trọng thế giới riêng cũa con và đồng thời tập cho con học tính tự lập. 

 

Luật pháp bảo vệ sự bất khả xâm phạm của nhà riêng.

 

 

Môi trường làm việc

 

15% dân số trong tuổi đi làm  (18-65 tuổi) thất nghiệp vì khủng hoảng kinh tế. Số người nghỉ hưu cũng cao vì dân Bỉ già. Nhưng thành phần còn lại thì đi làm. Văn hóa đối xử tại công tư sở là tùy theo văn hóa đặc thù của mỗi nơi tùy kích thước của xí nghiệp. Công nhân viên được bảo vệ bởi luật pháp bởi giao kèo lao động và bởi nghiệp đoàn. Dù là không  hạnh phúc như ở thiên đường. Thế nhưng

          . 37 giờ mỗi tuần 5 tuần nghỉ hè và tối thiểu 13 tháng lương mỗi năm

          . nếu thất nghiệp thì có lương thất nghiệp từ 500 euros/th đến 1000euros tùy hoàn cảnh gia đình

          . lương công nhân viên theo những bảng lương được công báo thường xuyên bởi nghiệp đoàn báo chí lương tối thiểu hiện nay khoản 1400 euros/tháng.

 

Công nhân viên rất đoàn kết để bảo vệ quyền lợi nhau – không phải vì tình nghĩa nhưng cái chính là thông qua tổ chức nghiệp đoàn -  sẳn sàng đình công chẳng hạn khi một đồng nghiệp bị sa thải vì một lý do không chính đáng.

 

 

 

Tầng 2 : Một vài qui ước  xã hội

 

Tuyên ngôn Nhân quyền (1948) nam nữ bình quyền (từ  1968) Qui ước quyền của trẻ em (1990)

 

Đó là ba “luật xã hội” quan trọng nhất nền tảng của mọi giao tiếp. Kính trọng người khác và tự trọng. Những qui ước này đã mất cả một thế hệ để từ từ được áp dụng trong cách đối xử giửa những thành viên xã hội.

 

Ngoài ra có những qui ước về cấu trúc và về sinh hoạt ảnh hưởng đến cách giao tế xã hội như  gia đình hạt nhân đạo đức của một số nghề nghiệp ...

 

 

Gia đình hạt nhân

 

Gia đình hạt nhân là một nhóm chỉ gồm một cặp vợ chồng và những con cái còn độc thân. Gọi là hạt nhân vì chỉ có một cặp vợ chồng. Cấu trúc gia đình này phổ thông trong xã hội Bỉ từ hơn 60 năm nay (2 thế  hệ) và là hình thức thích hợp với cá nhân nhất. Cơ sở hay nền tảng của xã hội gia đình rất quan trọng : là nơi sinh con đẻ cái và nuôi dạy con nít dạy cho chúng sống cùng với xã hội - nhưng gia đình dạng hạt nhân là chỗ tựa của con người thỏa mản những nhu cầu căn bản và nhất là nhu cầu tình cảm.

 

Gia đình hạt nhân tránh được những xung đột giửa các thế hệ giải phóng phụ nữ nhưng làm mất đi sự tương trợ gia đình và gây ra tình trạng cô đơn của người già.

 

Hai hiện tượng hiện đe dọa hình thức cấu trúc của gia đình hạt nhân:

 

          . dân Bỉ cũng như dân châu Âu nói chung càng ngày càng ít kết hôn mà sống chung không cần hôn lễ hay giá thú   

 

          . số ly dị cao 508/1000 cặp tức là hơn một cặp trên hai. Còn số chia tay nhau trong những cặp không cưới hỏi thì không có thống kê.

 

 

Đạo đức của một số nghề nghiệp :

 

Các ngành như y luật tòa án cảnh sát giáo dục ... có các hội đồng giám định của ngành nghề chăm lo về đạo đức riêng của nghề nghiệp. Ngoài ra ảnh hưởng của thiên chúa giáo trong quá khứ với những giáo điều như “không làm cho nguời khác những gì ta không muốn người khác làm cho ta” hoặc lòng nhân ái như cơ sở của đạo làm người  (đến bây giờ các cơ sở công giáo vẫn là những cơ sở có nhiều cấu trúc từ thiện nhất hoàn cầu).

 

Ngành báo chí cũng vậy : tự do báo chí tuyệt đối nhưng người làm báo tự  kiểm duyệt và hội đồng các phóng viên là cơ quan bảo vệ những “ranh giới không được vượt qua” và đóng vai trò giáo dục chế tài những thành viên của hội đồng.

 

Tiến bộ của khoa học nhất là khoa học xã hội luật và tâm lý học cũng góp phần không nhỏ làm cho giao tiếp tốt hơn. Chẳng hạn   những nghiên cứu về liên hệ giửa thầy và trò vốn là một liên hệ áp đặt giửa người mạnh và có quyền (thầy) và người yếu non nớt và kém hiểu biết (trò) đã giúp cho những người trong cuộc ý thức hơn về sự bất bình đẳng ấy và tìm cách thay đổi. Những nghiên cứu về xã hội học hay tâm lý học về liên hệ giửa bác sĩ và bệnh nhân cũng giúp cho những kết quả tương tự.

 

 

Một cách lý thuyết hơn vì sự phân công của xã hội nên có nghề này nghề khác.    Không phải vì tôi có cái nón cảnh sát cái áo đen thầm phán hay cái áo khoác trắng của bác sĩ mà tôi có quyền áp đảo người đối diện trong khi những người này đóng thuế để trả lương tôi. Chế độ phong kiến đã bị Cách mạng 1789 lật đổ : 3 thế kỷ đã đủ để xóa bỏ những cách đối xử dựa trên quyền lực. 

 

 

An ninh xã hội

 

Là một trong những tổ chức an ninh xã hội tốt nhất thế giới để bảo đảm một cuộc sống đàng hoàng cho tất cả mọi người. Quỷ an ninh xã hội có ba nguồn tài trợ

          . chính phủ (do thuế thuế ở Bỉ nặng có thể đến 50% lợi tức)  

          . chủ nhân

          . người đi làm (14 5% lương)

 

Bảo hiểm hưu trí thất nghiệp tai nạn lao động sức khỏe ... cho tất cả mọi người.

 

Món nợ của quốc gia  Bỉ to nhưng Bỉ không hi sinh chế độ bảo hiểm xã hội dù đó hiện là một gánh nặng lớn cho ngân sách.

 

An ninh xã hội làm cho dân tình thoải mái hơn trong giao tiếp hàng ngày. Thoải mái đến nỗi ít ai nói chuyện về tiền bạc với nhau – đó vẫn là một đề tài tế nhị chứ không như ở Mỹ -

 

 

Chế độ pháp trị 

 

Không ai có quyền vin cớ là tôi mù luật vì luật  chỉ là những hệ thống thành văn của những phép tắc cư xử sinh sống ... trong xã hội mà ai cũng đối diện mỗi ngày.  Hệ thống luật pháp tinh xão như để sẳn sàng “ra tay” hầu giử “trật tự” cho xã hội.

 

.  Buôn bán phải đúng giá vì có luật giao kèo phải sòng phẳng vì có luật

 

.  Phải bảo vệ môi trường đó là một ý thức tốt nhưng cũng là một bổn phận nếu không thì  sẽ bị phạt rất nặng nhất là các xí nghiệp kỷ nghệ...

 

. Quảng cáo một cấu thành sinh ra bởi kinh tế thị trường thì tự do thật đấy nhưng có hội đồng luân lý của quảng cáo kiểm soát và luật chế tài rất nặng những vi phạm. (Một điều mà ta chưa thấy ở Việt nam chẳng hạn là những ranh giới của quảng cáo không lẫn lộn giửa bài học bài báo và quảng cáo để tránh ngộ nhận - nếu không thì tai hại biết chừng nào thương gia sẽ dùng tất cả các phương tiện xã hội đễ lôi cuốn người tiêu thụ).

 

. Vượt vận tốc trên đường đi có máy ra đa chụp ảnh người vi phạm sẽ bị phạt tùy theo nặng nhẹ có thể lên đến tương đương với cả tháng lương công nhân viên lại bị thu hồi  bằng lái xe.

 

. Trẻ con được luật bảo vệ : chương trình truyền hình nhạy cảm vì có bạo lực hay có nội dung giới tính không được lên sóng trước 22 giờ ; người bán thuốc lá hay rượu cho trẻ dưới 18 tuổi sẽ bị phạt ...

 

 

 

Tầng 3 : Những giá trị  xã hội ?

 

Giá trị cao nhất ?  Con người

 

          . kinh tế không có vấn đề : mỗi cá nhân phải có ít nhất là 800 euros/tháng để sống. Điều này được bảo đảm bởi luật. Nhưng cả nước còn 17.000 người sống ngoài đường vì những lý do khác nhau.

 

          . giáo dục được bảo đảm miễn phí tới 18 tuổi nhưng có khoản 5% dân số không đọc viết trôi chảy (phần đông là người ngoại quốc hay người đã gặp nhiều “tai nạn xã hội dồn dập” bị bỏ rơi lúc bé đau bệnh nặng có vấn đề về trí tuệ tật nguyền ...)

 

 

Ứng dụng vào cư xử thường ngày sự  tôn trọng người đối diện thành một điều dĩ nhiên dù người đó là người hốt rác hay đứng đầu một đảng phái chính trị một người cao tuổi hay một em bé lên 5.

 

 

Các giá trị căn bản khác ?

 

Tương đương của  Tam cương (liên hệ giửa vua-dân thầy-trò cha-con) và Ngũ thường (nhân lễ nghĩa trí tín) của Khổng giáo ở Bỉ là những giá trị cơ sở là : Sự thật Công lý cái Đẹp Luân lý cái Tốt. Cộng vào đó phải kể 3 giá trị của Pháp mà Bỉ chịu ảnh hưởng sâu đậm : Tự do Bình Đẳng Tình huynh đệ. Tất cả những giá trị này bàng bạc trong tất cả các hệ thống tổ chức và sinh hoạt của xã hội.

 

Vài thí dụ :

          . giửa lương trung bình cao nhất và lương trung bình thấp nhất tỉ số là 5/1.     Đó là một trong những tỉ số bình đẳng nhất (ít cách biệt nhất) thế giới.

 

          . trong cách xếp hạng ngành nghề theo các điều tra xã hội học dân chúng     lúc nào cũng đánh giá cao các nghề khoa học mỹ thuật dù những nghề này    không cho nhiều lợi tức  (sự thật cái đẹp ).

 

          . Ở Bỉ có nhiều nghị sĩ thẩm phán và bộ trưởng ... là người gốc nước ngoài   (“tứ hải vi huynh đệ”).

 

 

Tầng 4 : Những tuyệt đối cấm kỵ và truyền thống đạo đức ?

 

Bề dày của văn hóa đối xử Âu Tây có cội nguồn từ xưa  -  từ những truyền dạy              của Socrate Aristote Platon của thời cỗ qua khái niệm “người tử tế” của thế kỷ  18 19  với  Voltaire Rousseau  và tới những thành tựu về nhân quyền đầu thế kỷ 20. Công chúa giáo cũng góp phần trong hệ thống đạo đức xã hội. Từ Cách Mạng 1789 đến giờ lại có  thêm đạo đức của những người không tôn giáo.

 

 

Cấm kỵ ?

Giết người và loạn luân là hai cấm kỵ duy nhất mà ai cũng phải biết. Cấm giết người vì người là cấu thành của xã hội mỗi cá nhân là một cái mắt trong sợi xích dài mất một mắt sợi xích đứt đoạn xã hội bị đe dọa trong sự sống còn và trong sinh hoạt.

 

Loạn luân cũng đe dọa xã hội không những vì những đứa con của loạn luân sẽ có nhiều rủi ro bị tật nguyền mà hơn nữa nếu ai cũng kết hôn với người trong gia đình mình thì xã hội mất một dịp để hòa bình hơn vì tạo được thêm liên hệ ngoài huyết thống.

 

Có một bản án ở Bỉ mà báo chí đã rình rang phản ảnh . Vụ án Dutroux 1996.

Marc Doutroux trong những năm 80 đã hảm hiếp và giết hai em bé Julie và Mélissa và hai thiếu nữ khác.

 

300.000  người - một số khổng lồ trong một nước chỉ có 10 triệu dân - đã xuống đường biểu tình im lặng như để tang các em vì Dutroux vừa giết người vừa hảm hiếp hai em bé – một hành động hao hao giống hành động loạn luân.

 

Giết người là một tội nặng. Nhưng ở Bỉ không có án tử hình – cũng hợp lý thôi vì kẻ sát nhân cũng là một người !

 

 

 

 

 

Kết luận

 

 

Một thí dụ khác dù có vẻ xa vời :   Phụ nữ Nhật bản khi giải thích về những dị đồng trong cuộc sống hằng ngày với một đấng lang quân người Mỹ bà sẽ nói “tôi căng thẳng với chồng” bằng tiếng Mỹ nhưng lại nói “tôi buồn” khi diễn tả bằng tiếng Nhật.

 

Ngôn từ diễn đạt mẫu văn hóa. Những mẫu văn hóa được tiêm nhiểm từ trẻ trong quá trình xã hội hóa đầu tiên cũng như những từ “cảm ơn xin vui lòng xin lỗi” bên này.

 

Xã hội hóa là một quá trình bắt đầu ngay từ lúc một em bé chưa chào đời em bị ảnh hưởng bởi cách sống thức ăn của mẹ em từ lúc còn là thai nhi. Sau khi chào đời gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên xã hội hóa cơ sở và để lại nét sâu đậm nhất – đến nổi cái xã hội hóa này thành như là một bản tính tự nhiên thứ nhì (seconde nature) mà người ta nói chasser la nature elle revient au galop – đuổi cái tự nhiên nó trở lại như ngựa phi nhanh – một người đi xa xứ lâu năm vẫn hoài hương là vì thế. Cũng vì lý do đó một người xa quê thấy rõ hơn ai hết những bất đồng văn hóa vì họ khổ ...

 

Không có qui luật xã hội nào bẩm sinh hết ta hòa hợp với xã hội sống với người khác hành động như người khác ... là nhờ những quá trình xã hội hóa.

 

Xã hội hóa đầu tiên bởi gia đình là một hình thức hết sức nhẹ nhàng. Gói ghém trong tình yêu thương của cha mẹ trẻ hấp thụ những cách sống với người chung quanh.

 

Quá trình xã hội hóa của gia đình được nối tiếp bởi học đường một môi trường tương đối được bảo vệ. Cách tổ chức sinh hoạt các lớp về công dân giáo dục – cho người không có đạo – và các lớp về tôn giáo (đạo Thiên chúa Hồi giáo đạo Phật) ... của trường học giúp  học sinh tiếp thu kiến thức và học đạo làm người.

 

18 tuổi khi rời trường sau giáo dục cưỡng bách giới trẻ có một hành trang tạm đủ để cư xử ở đời.

 

 

Nếu xã hội hóa thôi không đủ ở Bỉ hệ thống luật “tiếp sức” để chế tài. Lâu dần văn hóa ăn sâu bám rể vào tâm não mọi người giản dị như tiếng “xin chúc một ngày đẹp” khi gặp ai đó trước mọi liên hệ.

 

 

 

Với một hạ tầng kiến trúc khá giàu (PIB gần 40.000 US$/năm cho mỗi người) một thượng tần kiến trúc trọng nhân bản một nền giáo dục phổ cập rộng ... văn hóa tiếp xúc ở Bỉ hiền hòa yên ả ...trong cái giới hạn của một lối sống trọng cá nhân “nhà ai nấy ở” nơi mà tương trợ giửa người với người nhiều lúc nhường chỗ cho tương trợ được đảm bảo bởi xã hội là chính. 

 

 

Xin chấm dứt  bằng hai câu của nhà thơ Huy Cận

 

“Tôi đâu biết thịt xương là sông núi

Chia biệt  người ra từng xứ cô đơn”  (Trình bày)

 

 

 

Nếu dán mắt nhìn gần vào các sự kiện xã hội ở Bỉ thì vẫn còn nhiều điều không ổn : bất bình đẳng xã hội nhất là trên phương diện văn hóa thất nghiệp người nghèo (lợi tức dưới 823 euros/tháng/ người   là nghèo) chấm điểm và xếp hạng ở trường tệ hại xã hội như thuốc lá thuốc phiện ... nhưng những vấn đề đó cần nhiều phân tích khác và cần định nghĩa cẩn thận về tính tương đối của các khái niệm.

 

 

 

 

Nguyễn Huỳnh Mai

Liège Bỉ

 

 

 

More...

Suy nghĩ thêm về phương pháp giáo dục

By Trần Quang Đại


                                                                               Trần Quang Đại

 Về chuyện phương pháp dạy học giới khoa học xã hội còn nhớ một giai thoại khi sinh viên hỏi một giáo sư nổi tiếng về phương pháp học tập nghiên cứu của mình vị giáo sư nọ trả lời: “Phương pháp của tôi là không bao giờ học giáo học pháp”.

 

“Học học nữa học mãi!”

Một số người cho rằng vị giáo sư nọ coi nhẹ vai trò của phương pháp nhưng kì thực đã không hiểu ẩn ý của giáo sư đó là phải làm việc cật lực nghiêm túc phải đào xới từ thực tiễn một cách say mê tự nhiên sẽ tìm thấy phương pháp của mình. Không có một phương pháp nào dành cho những người lý thuyết suông lười biếng cả.

   Lâu nay có một số người khi bàn đến phương pháp giáo dục là muốn đi tìm kiếm một cách một “công thức” để giúp người học thành đạt một cách “đơn giản gọn nhẹ” để học sao cho “nhẹ nhàng mà hiệu quả”. Đây là một ngộ nhận phổ biến làm gì có chuyện “làm chơi ăn thật” trong học tập không có phương pháp nào có thể thay thế được lao động học tập vốn không bao giờ nhẹ nhàng. Thực chất những người thành đạt trong học tập là họ đã biết cách vượt qua những gian lao vất vả bằng niềm đam mê vô tận bằng sự khích lệ từ những kết quả đạt được trên con đường học tập. Theo chúng tôi “phương pháp giáo dục của Lê - nin” đã gói gọn trong câu nói nổi tiếng của ông: “Học học nữa học mãi!”.     

 

   Vì vậy theo chúng tôi phương pháp cần thiết nhất quan trọng nhất có tính nền tảng là người thầy cần làm sao để truyền được niềm đam mê học tập tới học trò. Nếu không làm được điều này người giáo viên đã thất bại ngay từ đầu.

    Để truyền được ngọn lửa đam mê học tập tới học sinh là cả một nghệ thuật bắt đầu từ tấm gương của chính người thầy. Người thầy uyên bác đam mê khoa học nhiệt tâm với học trò biết ứng xử phù hợp với tâm lý học trò luôn có sức hấp dẫn khích lệ rất lớn đối với học sinh. Đã có rất nhiều học sinh đam mê học tập từ tấm gương của thầy cô đi theo con đường khoa học nghề nghiệp của thầy cô nỗ lực học tập để không phụ tấm lòng kì vọng của thầy cô.

 

   Lâu nay chúng ta nói nghề giáo là nghề cao quý theo chúng tôi hiểu đó là nghề đòi hỏi sự hi sinh vô điều kiện suốt đời yêu thương và đam mê như hình ảnh một ngọn đuốc cháy hết mình để soi sáng nhân gian tìm thấy hạnh phúc của đời mình trong sự thành đạt của học trò. “Học (cho mình) không biết chán dạy người không biết mỏi” (Khổng Tử) hay “Biết mười để dạy một” là vậy. Phẩm chất lí tưởng ấy tỉ lệ thuận với sự thành công trong nghề giáo. Nếu như nhà giáo “biết một dạy một” hay thậm chí dạy cả những điều bản thân mình cũng chưa hiểu rõ chưa tin tưởng thì giáo dục sẽ lâm nguy.

  Cũng không cần nói nhiều đến phương pháp của thầy giáo bởi nếu thầy đam mê uyên bác tâm huyết với nghề thì tự khắc sẽ có phương pháp hay và ngược lại. Bây giờ có không ít giáo viên kêu ca “Học trò sinh viên lười lắm thực dụng lắm vô cảm lắm…” mà bản thân lại chưa nêu được tấm gương về đam mê nghiên cứu giảng dạy.

Không thể học thay

  Việc học cũng như việc ăn việc ngủ là nhu cầu tự thân của mỗi người không ai có thể làm thay làm hộ. Đây là nguyên tắc cơ bản sơ đẳng của giáo dục. Con người muốn lớn lên thì phải ăn muốn trưởng thành muốn tồn tại muốn hoà nhập với xã hội thì phải học. Không có thực đơn chung cho mọi người cũng như không có phương pháp giảng dạy chung cho mọi đối tượng. Chỉ có những quy tắc nguyên lý chung. Dù là đứa trẻ sơ sinh người mẹ cũng chỉ giúp đỡ hỗ trợ chứ không thể ăn thay cho bé.

 

Việc dạy học cũng vậy nếu làm thay làm hộ chỉ là cách tự lừa dối và không đạt được bất cứ một kết quả gì. Đã một thời chúng ta bằng lòng với những học sinh sinh viên học thuộc bài viết lại những gì thầy cô đã truyền thụ. Hình ảnh người giáo viên giỏi là người dạy “hay” thuyết trình lưu loát hấp dẫn trình bày bảng đẹp rõ ràng.

   Bây giờ vẫn không ít người “lưu luyến” với phương pháp “đọc - chép” coi đó là một giải pháp tình thế có thể chấp nhận được. Họ cho rằng vì học sinh có một số đối tượng quá yếu kém nếu không đọc chép thì không biết làm gì hơn vì đọc chép ít ra cũng cung cấp được một số kiến thức để mà “gỡ gạc” trong thi cử. Phương pháp “đọc – chép” trong trường hợp này chẳng khác gì bệnh đã vào trong cốt tuỷ nhưng người thầy thuốc lại sử dụng dầu gió xoa ngoài da tất nhiên chỉ tự lừa dối mà thôi.

   Lại một số người vẫn đề cao phương pháp thuyết trình với lập luận ngày xưa có những vị giáo sư uyên bác thuyết trình cực kì hấp dẫn thu hút rất đông người nghe. Trong số học trò của các vị ấy sau này rất nhiều người thành đạt. “Lí luận” này nghe qua có vẻ đúng nhưng kì thực chưa nói được bản chất bên trong của vấn đề.

 

Không một ai có thể giỏi giang bằng mỗi việc nghe thuyết trình dù là của các vị giáo sư uyên bác bậc nhất thế giới. Việc thuyết trình chỉ có tác dụng gợi hứng truyền lửa đam mê bổ trợ kiến thức hướng dẫn về phương pháp gợi mở vấn đề…Còn kiến thức kỹ năng chỉ có thể có được từ lao động nghiên cứu hoạt động thực tiễn của cá nhân. Trong khoa học làm gì có “bí kíp” như trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung chỉ cần luyện trong thời gian ngắn kỉ lục đã thành thiên hạ đệ nhất. Cũng không có vị giáo sư nào tài giỏi đến mức học trò chỉ nghe ông nói là thành đạt. Từ hạt lúa nảy mầm đến cánh đồng vàng trĩu bông phải trải qua giai đoạn làm đất ủ mạ cấy lúa làm cỏ chăm bón trổ bông không thể “nhảy cóc”.

 

 Những lực cản của phương pháp giáo dục

 Phương pháp giáo dục là một yếu tố của hệ thống giáo dục vừa là sản phẩm của hệ thống giáo dục vừa có những tác động làm thay đổi hệ thống giáo dục. Nói đến phương pháp giáo dục không thể không nói đến cơ chế quản lý yếu tố con người. Hiện nay cơ chế bao cấp trong giáo dục từng bước được “cởi trói” song vẫn đang là xu hướng chủ đạo. Những tiêu cực lạc hậu trong khâu quản lý giáo dục là lực cản lớn ảnh hưởng đến sự nỗ lực của nhà giáo.

 

Hiện nay vẫn tồn tại hình thức đánh giá giáo viên qua hồ sơ sổ sách và các tiết thao giảng dự giờ các kì thi giáo viên giỏi sáng kiến kinh nghiệm. Phương pháp đánh giá này mang tính hình thức rất lạc hậu ngay cả làm tốt cũng không có tác dụng tích cực đối với việc đổi mới phương pháp giáo dục. Trong khi đó những tiêu cực trong những khâu này đã từng ngày từng giờ làm nản lòng những nhà giáo chân chính.

 

Đời sống đại đa số giáo viên còn khó khăn cũng là một thách thức không nhỏ. Nghề giáo ngày càng kém sức hấp dẫn hậu quả là không thu hút được những học sinh giỏi vào ngành sư phạm. Tương lai giáo dục càng khó khăn. Đội ngũ những người làm giáo dục hiện tại vẫn chưa đồng đều thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng.  

   Việc ứng dụng công nghệ thông tin đang lâm vào tình trạng nửa vời đối phó. Nhà giáo đang gặp khó trong cả khâu kinh phí lẫn kinh nghiệm thực hiện. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy học chỉ có thể phát huy tác dụng trong điều kiện cả thầy và trò đều có đủ phương tiện. Thế nhưng ngay cả thầy cũng chưa đủ phương tiện thì rất khó để có hiệu quả. Một số giáo viên chỉ “biểu diễn” trong một số giờ thao giảng trình chiếu và lại chủ yếu rơi vào tình trạng “cưỡi ngựa xem hoa” hoặc biến máy vi tính thành công cụ sao chép “nhân bản vô tính” giáo án.

 

Học sinh thì không được học đến đầu đến đũa thành ra sa vào game chát chít web “đen”… Nếu coi công nghệ thông tin là khâu đột phá trong đổi mới phương pháp thì thiết nghĩ cũng cần có sự đầu tư “đột phá” cho khâu này và phải bắt đầu từ nhận thức của nhà quản lý. Thế nhưng vẫn còn ít trường dám đầu tư mạnh cho công nghệ thông tin.

Chúng ta hiện chỉ có một chương trình thống nhất cho mọi đối tượng học sinh nhiều lớp học quá đông thành phần đa dạng giáo viên không đủ thời gian quan tâm đến từng em đặc biệt là kèm cặp những học sinh yếu kém. Một nghịch lý nữa là hiện nay những học sinh giỏi lại được học những giáo viên giỏi và ngược lại. Học sinh phải học nhiều môn thi cử kiểm tra nhiều căng thẳng khiến việc học rất nặng nề mệt mỏi mà hiệu quả thấp. Tiêu cực xã hội tác động đến nhà trường “lôi kéo” không ít học sinh sinh viên khỏi niềm đam mê học tập nghiên cứu.

Xuất phát từ một nền giáo dục khoa cử ngàn năm mối quan hệ tương tác giữa thầy – trò vẫn đang tồn tại trên lí thuyết nhiều hơn là đi vào thực tiễn được hiện thực hoá trong khâu quản lý giảng dạy. Vẫn là một mô hình giáo dục cũ trong đó ông thầy đóng vai trò chủ đạo quyết định tuyệt đối học sinh sinh viên vẫn trong “vai” thụ động phụ thuộc. Vẫn là quan niệm dạy cho trẻ những gì người lớn muốn hơn là những gì chúng thực sự cần.

 

Vì vậy mới sinh ra hiện tượng lý thuyết kinh viện thiếu kĩ năng sống trong giáo dục. Đây là một lực cản không nhỏ của việc đổi mới phương pháp giáo dục. Do đó thiết nghĩ nên “giao quyền” cho người học càng nhiều càng tốt. Đây không phải là cổ vũ cho tình trạng “dân chủ quá trớn” “sáo nhảy quá đăng” vô tổ chức mà thực sự đi đúng quỹ đạo giáo dục tiên tiến nghĩa là phát huy cao độ sự nỗ lực sáng tạo chủ động của người học thực hiện đúng chân lý “không thể học thay”.

Trước mắt nên áp dụng phương pháp giáo dục tư duy phản biện cho học sinh sinh viên khuyến khích các em tự đi tìm chân lý khoa học. Xưa có chuyện người cha sắp mất có lời dặn con về một hũ vàng tưởng tượng để các con xới tung khu vườn lên từ đó mới có mùa màng bội thu. Thiết nghĩ các nhà giáo cũng nên khuyến khích học sinh “xới tung” khu vườn khoa học để tự mình gặt hái lấy bông lúa của mình. Đó là quy luật và là hạnh phúc của người được đi học. Muốn đổi mới phương pháp giáo dục phải nhận thức một cách đầy đủ về những lực cản hiện tại tìm cách “cởi trói” từng bước một.            

 

(Đã đăng báo Giáo dục và Thời đại số đặc biệt tháng 3/2011)

 

More...

BẢN LĨNH NGUYỄN NGỌC TƯ

By Trần Quang Đại

                 

                                                                               NGUYỄN HUỲNH MAI

Nguyễn Ngọc Tư là  Nguyễn Ngọc Tư

 

Đọc bài phỏng vấn Nguyễn Ngọc Tư  “Tôi điên không đều” của Trần Hoàng Thiên Kim (Evăn 18.02.2008) (2)   tôi quí  bản lĩnh của Nguyễn Ngọc Tư tự trọng thông minh hóm hỉnh bất cần giới truyền thông mà không làm người đối diện phật lòng.

 

Sống giữa một xã hội mà nhiều người làm sẳn sàng làm trò hề để được lên báo để được chụp hình để được kể về cái .... tôi đáng ghét   chạy theo người nổi tiếng để hưởng ân hụê rơi vãi   Nguyễn Ngọc Tư khẳng định mình qua cách ví von nói trớ  sang một bên không trả lời trực tiếp…

 

Chuyện dạy con chẳng hạn.  Cái lạ của giới truyền thông là khai thác lợi dụng để khuấy bột nên hồ  : cứ hễ ai nổi tiếng thì những gì họ nghĩ họ làm đều được xem là khuôn vàng thước ngọc mà mọi người phải trầm trồ (phải hít hà thán phục nói kiểu của Nguyễn Ngọc Tư). Phỏng vấn  Nguyễn ngọc Tư nhà báo cũng dùng bài bản  đó : Thế chị dạy con làm sao ...? Và  Nguyễn Ngọc Tư trả lời như không trả lời nhưng không thể công kích Tư được: “ làm sao mình dạy thằng con mình trong khi mình với nó… ngang hàng nhau ...”

 

Về giáo dục mà nói mẹ mà là bạn với con rõ ràng là hạnh phúc cho con : nó có thể kể hết cho mẹ nghe những tâm tư thầm kín được sự cảm thông của mẹ và từ đó hướng lên đường tự lập – dạy trẻ tức là giúp nó sống một mình. Ở đây Nguyễn ngọc Tư thương con trọng con cùng sống với con  và ...  dạy con như thế dù là  nói :

 

Nó với tôi là bạn đồng hàng sao dạy nó được 

 

Câu trả lời là một cách đánh trống không – chuyện riêng tư của hai mẹ con ai lại mang lên báo ?

 

Nguyễn Ngọc Tư  “vẫn cười trừ” cũng trong bài phỏng vấn cho một câu hỏi trước đó .

 

Mà không  cười trừ sao được khi nhà báo cố níu kéo hỏi khéo về phản ứng của phu quân Nguyễn Ngọc Tư trước cái sự nổi tiếng của vợ.  Tội nghiệp quá   tới thời buổi này mà vẫn còn cái mẫu vợ không được quyền “hơn” chồng trên một lĩnh vực nào đó - ở đây là nổi tiếng – tôi để chữ “hơn” trong ngoặc kép – mà cứ phải kín đáo nép sau bóng chồng ư ?

 

Hai vợ chồng có quyền thương nhau thông cảm nhau ông xã  Nguyễn Ngọc Tư vẫn đọc truyện cô viết nhất là sau Cánh đồng bất tận mà đồng thời vẫn có sinh hoạt riêng của mình kiểu như nhà thơ nói :

 

Mình với ta như hai mà một

Ta với mình như một mà hai

 

Quyện với nhau chồng lên nhau cứ như hình với bóng có ngày làm ngộp thở nhau mất.

 

Không biết bên Việt Nam thế nào chứ ở Bỉ những cặp vợ chồng “ hợp nhất”  (fusionnels mà tôi dịch là cứ “kè kè bên nhau”) là những cặp chóng ly dị nhất kiểu yêu nhau lắm cắn nhau đau.

 

Ấy là chưa nói tới chỗ  Nguyễn Ngọc Tư vẫn tuyên bố rằng đấng phu quân  là người kiếm tiền chính trong nhà. Có tiền nhuận bút chỉ để thỉnh thoảng khoe với chồng rằng cái sự viết lách của mình không phải chỉ là việc tào lao (3).

 

Làm sao làm nên “thương hiệu Nguyễn ngọc Tư”  ?

Chị đã bồi đắp cho vốn tri thức văn chương của mình như thế nào để từ hai bàn tay trắng chị làm nên một thương hiệu Nguyễn Ngọc Tư?

 

Câu trả lời hóm hỉnh của Nguyễn Ngọc Tư:  Tôi không đi từ hai bàn tay trắng mà từ cái đầu ...

Nhưng hai chữ “thương hiệu” mà phóng viên dùng ... thể hiện “trào lưu văn hóa” hiện nay. Chết mất cái gì cũng bán buôn đổi chát. Đến sáng tạo viết văn cũng là làm nên thương hiệu -  để làm giàu chắc !

 

Viết là một nhu cầu gần như gắn liền với đời như cái kiểu ... “tôi vẫn sống tôi vẫn ăn và tôi vẫn thở”  (tác giả nào nhỉ ? Miên đức Thắng ?).

 

Nói về viết   Nguyễn ngọc Tư  tránh né những câu hỏi của người đối diện một cách rất tự nhiên.

 

Thí dụ khi phóng viên hỏi   về  Nghề kiếm sống và nghiệp trời cho

 

Tôi điên không… đều. Có những lúc viết tỉnh trân và những cái viết ra từ lúc tỉnh hay điên tôi đều trân trọng như nhau.

cơn điên nào đã khiến tôi viết  cơn điên nào đã khiến mình viết ra những dòng này.

 

Phóng viên lại hỏi : 

 

Mỗi nhà văn đều phải làm mới mình. .. chị có ý định sang cải tạo một vùng "kinh tế mới"?

 

Trả lời  :

 

Bây giờ thì chưa cái cảm giác mình chỉ chạm tới lớp áo ngoài của miền đất này khiến tôi nghĩ mình sẽ ở lại lâu ở vùng Cà mau.

 

Trước những lời khen tụng danh vọng và  nổi tiếng cô vẫn nói trớ với  một thái độ tỉnh táo :

 

Họ có nói nhầm về một nhà văn nào đó không vậy trời? Thứ nhất tôi không phải ở hàng đầu. Thứ hai tôi cũng không viết những đề tài gây sốc. Vụ" bút pháp độc đáo” tôi cũng hơi… nghi ngờ. Bỗng dưng nhận nhiều hoa quá tôi cũng… ngại sợ người ta tặng nhầm rồi mai mốt đòi lại thì quê.

 

Rốt cuộc   Nguyễn Ngọc Tư vẫn là Nguyễn Ngọc Tư .  Phóng viên cũng như độc giả biết thêm rất ít về cô.

 

Tôi dùng hai chữ bản lĩnh là trong đường hướng đó.

 

 

Chủ thể và vật thể

 

Tại sao Nguyễn Ngọc Tư  là  Nguyễn Ngọc Tư  ? Đây là một câu hỏi của nhiều người.

Trong mọi xã hội   thông thường các thành viên bị nhiều áp lực để thành những con cừu  để kết quả là ai cũng gần giống như ai   yên ổn và hòa bình xã hội được bảo đảm.

 

Cái   “tôi là tôi” của  Nguyễn Ngọc Tư  rất  đặc biệt đặc biệt kiểu không giống ai...

 

Vì hoàn cảnh xã hội ? Sống và lớn lên ở đồng bằng sông Cữu Long bỏ học nuôi ông ngoại. Vì tâm lý  ?  Phụ nữ phải bướng bỉnh cứng đầu để xác định chổ đứng của mình

Vì di truyền  bẩm sinh ?   Nguyễn Ngọc Tư có cái “gen” gì đó khác người  ?

Vì cấu trúc sinh lý tâm thần ?  cô ấy cao bao nhiêu bao nhiêu tuổi ?  thời niên thiếu của cô có gì lạ ? 

Vì khả năng thiên phú trời cho  ?

 

 

Tôi ngưởng mộ lý thuyết của Albert Jacquard (4) nên khó tin vào di truyền quyết định hoàn toàn lại không  là học trò của trường phân tâm học Freud hay Lacan nên không giỏi việc phân tích tâm linh. Tôi  cũng không tin  vào năng khiếu bẩm sinh hay thiên phú.

 

Trong  xã hội học trường phái  Boudon (5) nói về tự do của chủ thể trong hệ thống xã hội trong khi học trò của  Bourdieu (6) lại đặt trọng tâm ở sự an bài của xã hội   Nguyễn ngọc Tư nằm ở chổ nào giửa hai lý thuyết đó ?

 

Cô viết về người và sông nước Cà Mau về những gì ở chung quanh cô :   đúng là do cảm hứng từ môi trường   không có môi trường đó có thể đã không có Nguyễn Ngọc Tư.

 

Nhưng cô viết với cái nhận xét của riêng Nguyễn Ngọc Tư  làm như cái cảm nhận (sensibilité) là cái phần cá thể của cô. Cà Mau là Cà Mau trong mắt  Nguyễn Ngọc Tư.

 

Như thế viết chuyện sông nước Cà Mau đã là khẳng định cái chủ thể của mình chứ không bị động như một vật thể như  “lá cuốn theo dòng”.  Viết ra tức là đã tách mình ra khỏi khung cảnh. Khung cảnh thành vật thể (objet). Muốn hiểu Nguyễn ngọc Tư có lẻ phải theo  lý thuyết của Boudon.

 

 

Chủ thể Nguyễn  Ngọc Tư  đến từ đâu ? Yếu tố nào đã quyết định  ?

 

Còn rất trẻ Nguyễn Ngọc Tư   “ăn  có thể chưa no nhưng lo đã tới” nhất là hồi lúc đầu cô viết khi chưa đầy hai mươi tuổi   cô đã  có khả năng không bị xã hội hoá tới cùng không nhắm mắt đưa chân như con thiêu thân  trong một môi trường trọng tiền bạc vật chất màu mè phiến diện ...

 

 

Một giả thuyết  ?

 

Có thể Nguyễn Ngọc Tư yêu yêu người yêu cây cảnh non nước   yêu chính mình nữa nên sẵn sàng lắng đọng thả lòng qua ngòi bút không kềm hãm.  Viết như sống   viết như thở. Đơn giản. Ngôn từ cô dùng cũng thế. Có sao viết vậy. Bất cần   không bị ảnh hưởng bởi thành công hay tiếng tăm.

 

Có người đi theo tiếng gọi của núi sông Nguyễn Ngọc Tư  viết theo tiếng gọi của lòng mình.

Howard Gardner (7) gọi đó là thông minh cảm xúc (intelligence émotionnelle) còn  trong ...Luky Luke (có gì lạ   ai cũng đọc truyện bằng tranh mà !) thì gọi là ủy mị  (một  trong bốn anh em Dalton rất tình cảm).

 

Trong ...thì quét lá đa thân phận của một cô gái mà người trần mắt thịt có thể gọi là dở hơi không ai dòm ngó tới -   dòm ngó tới làm gì trong một xã hội mà chỉ có nhà giàu người có chức tước hoa hậu ... mới được tung hô. Bé Tím là một người ngoài lề xã hội   một thân phận  không đáng kể (8) nhưng  Nguyễn Ngọc Tư đã nhìn thấy rung động và viết ra.

 

Chính vì thế mà tôi không sợ Nguyễn Ngọc Tư  cạn nguồn cảm hứng.  Cô chỉ sẽ cạn nguồn cảm hứng ngày nào cô hết là Nguyễn Ngọc Tư  ( ngày đó có thể xãy ra  : xã hội có một khả năng vĩ đại biến đổi con người ! Với những cái mà dân chuyên môn gọi là xã hội hóa mất xã hội hóa tái xã hội hóa ).

 

Cái yêu của Nguyễn Ngọc Tư Thanh Vân đã viết rồi từ 2006 (9).

 

Trả lời trên Nhân Dân 03.02.06 Nguyễn Ngọc Tư cũng nói Tôi rất sợ lòng mình vô cảm. Tôi cũng sợ y như vậy khi thấy những người chung quanh không còn biết thương yêu nữa.

Đã giàu thương yêu cô còn đặt thương yêu vào chổ cao trên bật thang giá trị.

 

Trái tim  riêng thôi không đủ. Nhạy cảm thôi không đủ.  Biết suy nghĩ phân tích (10) nữa . Tức là đặt những câu hỏi về những sự việc chung quanh mình đi đến nhận thức có một cuộc sống nội tâm dưới một bề ngoài hồn nhiên. Nguyễn Ngọc Tư có lẽ mãi vẫn khắc khoải trong lòng  “Tại sao sự đời nó như vậy ? tôi thấy lạ nên tôi mới viết ra viết ra cho đở day dứt”. Khả năng này bẩm sinh có thể ở dạng khả năng (potentialité – theo lý thuyết của A. Jacquard). Có thành thực hành là đã phải qua một quá trình học hỏi bắt chước với người lớn ( ông ngoại và cha mẹ ?) ...

 

Chung đụng với đời cộng vào  cái nhạy cảm thêm vào cái nhận thức và khả năng cầm ngòi bút  : Nguyễn Ngọc Tư viết văn. 

 

Viết văn cũng là chuyện riêng của Nguyễn Ngọc Tư : cô tránh né những câu hỏi của người đối diện một cách rất tự nhiên.

 

 

 

 

Tiếng hét hay là thiếu công lý theo Nguyễn ngọc Tư

 

 

Qua bút ký  ... thì quét lá đa Nguyễn ngọc Tư kể cái nhẫn nhục cam chịu của  bé Tím một cô gái  tâm hồn giản đơn đang mất nơi tá túc và mất miếng ăn hàng ngày vì cái chợ chồm hổm nơi cô sinh sống bị dẹp đi để cất chùa ;  

 

Trong  Trời ở nơi nào tôi ở đây ...Bụi đường nháo nhác ... là chuyện thiết kế đô thị bất cần những nhu cầu tối thiểu hay căn bản của con người  : Không còn chân trời không chỗ cho trẻ em chơi ô nhiễm đủ thứ nó ảnh hưởng tới văn hóa tới quan hệ xã hội tới tình người ... nó  hổn độn nó  phi nhân bản   ... ;

 

 

Nước như nước mắt là để khóc cái thân phận con người trong một xã hội trọng tài sản hơn nhân mạng một xã hội  bất lực và bất cần không mang  hạnh phúc cho cá nhân.

 

Nguyển Ngọc Tư dùng từ ngữ và   cách diễn đạt giản dị không dao to búa lớn  đến nỗi Trần Hữu Dũng viết về những nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư  (2005)  : 

 

 

Đó là những người nặng tình với công lý song không phải là thứ công lý khô khan quyết liệt của kẻ bị áp bức bốc lột thời bị trị mà là thứ công lý đầy nhân ái giận nhưng không oán trách nhưng không thù (Mơ hết Kính thưa anh nhà báo Làm cho biết Tản mạn quanh … cái cổng).

 

 

Tôi nghĩ Nguyễn Ngọc Tư có ước mơ thầm kín là công lý sẽ được tái lập.

 

 

“Củ khoai chờ đấy”   câu cuối của Trời ở nơi nào tôi ở đây ... là một chứng cứ .

Ngày nào đó cả ngàn con kiến sẽ rinh nổi củ khoai.

Nguyễn Ngọc Tư hét đó   công lý bị xâm phạm đó.

 

 

Tiếng hét giản dị và gián tiếp đó quý hơn trăm ngàn nghị quyết hay hội thảo mà không làm di chuyển được gì.  Nguyễn Ngọc Tư ít nhất để lại dấu tích của con người và thời đại cô.

 

Trách nhiệm công lý là trách nhiệm của mọi người chứ không chỉ là trách nhiệm của riêng người viết văn.

 

 

 

 

Cái nghèo nữa.

 

Việt Nam thời kinh tế thị trường đổi mới mở cửa nhan nhản những đô thị mọc lên như nấm những triệu phú tỉ phú mua xe độc mua máy bay riêng nhưng học trò lớn bé gì đi học cũng phải đóng học phí người không tiền thì không dám đi bệnh viện -  bệnh viện nhé  vì cái nhà đó ngày nay không còn ai gọi là “nhà thương” được nữa.

 

Cái ngèo dưới mắt  Nguyễn Ngọc Tư có thể tóm tắt qua  18-19 cái không của bé Tím trong

... thì quét lá đa

 

Thân phận con người rẻ hơn bèo trong Nước như nước mắt. Thế kỷ trước Nhà Mẹ Lê (Thạch Lam) đã khổ lắm rồi mà trong một chừng mực nào đó ta còn chấp nhận được vì lúc ấy là thời Pháp thuộc thực dân bóc lột lại thêm cường hào áp chế. Còn bây giờ với cái nghèo trong  truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư ta phải nghĩ sao đây?

 

 

Bất bình đẳng xã hội

 

Lý do nào mà mình ghét người giàu có phải vì tụi bạn khá giả sống bên kia cầu Phán Tề được ăn mặc no đủ hơn mình? Cứ coi tụi nó cầm ổ bánh mì chật căng những viên xíu mại thịt khìa hay chéo nguẩy ngồi ăn bún riêu là mình ghét lắm. Mình tuyệt không chơi với đứa hôm nào cũng tới lớp với vệt cà phê sữa đóng vành trên mép. Mình cũng chẳng ưa đứa hay trải ra bàn những cây viết chì đầy màu sắc những cuốn tập trắng tinh... Tất nhiên là mình vô cùng ghét những đứa ăn gỏi đu đủ da heo sáu bữa trong tuần. Ý thức giai tầng của mình rõ ràng hơn bao giờ hết (Dư vị thời đứng ngó).

 

Một đoạn dài dưới cái nhìn và trong ký ức một cô bé miếng ăn cuốn tập cây viết chì là những dấu hiệu của đau thương của bất bình đẳng xã hội .

 

 

Thân phận

 

Chuyện thức và ngủ Nguyễn Ngọc Tư  kể qua Gió thổi suốt đêm. Không phải chỉ để tả cảnh gió bão mà là nói lên thân phận của người mẹ của chính mình để sống tùy theo khó khăn thời tiết cuộc thăm viếng của con chồn nào đó định ăn cắp gà hay cơn bịnh của đứa con còn nhỏ ...

 

Có ai bảo cuộc sống là nhung lụa là hoàng kim đâu !

 

Dài dòng hơn thân phận làm người bàng bạc trong suốt  Nước như nước mắt : không nhà cửa lêng đênh trên sông không miếng đất để chôn người chết không tương lai .. .

 

 

 

 

 

Dịch Nguyễn Ngọc Tư  không dễ với những  từ láy   những thành ngữ dân gian rặt Nam bộ ...

 

xao xác    nháo nhác nhừ tử khoái xách xe ra đường tí tớn đi te te nhằm nhò ...và tất cả những cái mà người ta gọi là ngôn ngữ nói.

 

Tôi chưa có dịp đọc các truyện đã được dịch ra tiếng Pháp của  Nguyễn Ngọc Tư  nên không biết các dịch giả đã giải quyết cái khó khăn ấy  như thế nào.

 

Làm sao dịch cái nhạc tính của một câu như  khói khỏi phải nói bụi khỏi phải tả ồn ả khỏi phải than (Bụi đường nháo nhác) ?

 

Thỉnh thoảng đùng một cái Nguyễn Ngọc Tư đổi “chương trình” và dùng từ ngữ trừu tượng :

chung một xe mà đi như những thực thể cô đơn  (Bụi đường nháo nhác).

 

 

Trong Trời ở nơi nào ta ở đây ...câu chót   Củ khoai chờ đấy  ngầm nói ý của câu “con kiến mà kiện củ khoai” xưa rồi Diễm! Tôi mang cụm từ này  đi hỏi những người thân thuộc rồi đi hỏi cả những  nhà nghiên cứu ngôn ngữ mọi người chịu thua không có thành ngữ tương đương trong tiếng Pháp. 

 

Chắc là phải dịch :

 

La patate tu attends. Un jour je t aurais même si je ne suis qu une fourmie contre la grande masse que tu es. 

(Cũ khoai chờ đấy một ngày tao sẽ thắng được mày dù tao chỉ là một con kiến trước cái khối  đồ sộ của mày).

 

Hoặc là chú thích ở cuối trang như kiểu những sách bài giảng truyện Kiều hồi xưa tôi học.

 

Chết rồi tôi  đang so sánh  Nguyễn Ngọc Tư và  Nguyễn Du ngàn lần xin lỗi Nguyễn Tiên sinh! 

 

Et si la cloche de Saint Lambert sonne juste maintenant (11).

 

 

 

Nguyễn Huỳnh Mai (Liège Bỉ)

 

 

---------------------------------------------------------

 

 

(1) Tôi không phải là một nhà phê bình văn học cũng không là nhà văn lại chưa bao giờ có dịp gặp tác giả chỉ có vài dòng viết về Nguyễn ngọc Tư với tư thế  một độc giả “phàm phu tục tử” (cảm ơn Khấu Hồng Nguyên đã đóng vai người đọc thứ nhất - premier lecteur-).

 

Hôm nay đọc những giới thiệu và phê bình về bộ phim dựa trên truyện Cánh đồng bất tận nên bỗng có nhu cầu phát biểu ý kiến Nguyễn ngọc Tư “được” hay “bị” dịch bằng nhiều lối ngôn ngữ khác kể cả ngôn ngữ điện ảnh mặc dù chính Nguyễn ngọc Tư cũng quan niệm “  Viết xong là xong còn đưa lên sân khấu hay phim ảnh là chuyện của người khác”

http://www.sggp.org.vn/gapgocuoituan/2010/10/240421/

 

 

Cũng hi vọng không bị Nguyễn ngọc Tư phê : “Mấy nhà phê bình cũng không nói sâu cho Tư hiểu. Họ chỉ khen mấy cái mà bản thân Tư đã rõ về mình” (Tuổi Trẻ .04.12.05  http://www.viet-studies.info/NNTu/ )

 

 

(2) http://evan.vnexpress.net/News/chan-dung/2008/02/3B9ADCD3/

 

 

(3) Tiền phong 31.01.06 Nhón chân hái trái ở cành quá cao trang Nguyễn ngọc Tư

http://www.viet-studies.info/NNTu/

 

 

(4) Jacquard A. Cinq milliards d hommes dans un vaisseau. Paris Ed. Du Seuil 1987 (coll. Point- Virgule).

 

(5) Boudon R. La logique du social. Paris Hachette 1979.

 

(6) Bourdieu P. và Passeron J.-Cl. La reproduction sociale. Paris Ed. Minuit 1969.

 

(7) Gardner H. Les intelligences multiples : La théorie qui bouleverse nos idées reçues.  Paris   Retz   2008.

 

 

(8) marginalité et exclusion (ngoài lề hay bị loại). Ở châu Âu người nghèo người vô gia cư cũng bị cho ra ngoài lề xã hội .

 

 

(9) eVan 7.02.06 http://www.viet-studies.info/NNTu/

 

 

(10) discernement một khả năng cần não văn hóa tri thức và triết lý . Xem Poirrier R. Inné et acquis. In Education-Formation n° 233 juin 1991 pp 39-48.

 

 

(11) Thành ngữ riêng ở Liège “nếu chuông nhà thờ thánh Lambert đổ đúng nhằm lúc ấy thì sự việc sẽ thành sự thật”. Đem so sánh Nguyễn ngọc Tư  và Nguyễn Du thì sao nhỉ là  mơ ước cô sẽ lưu lại cho hậu thế các tác phẩm của cô ?

More...

Văn hóa đối xử : một bài luận khó

By Trần Quang Đại


                                                                            NGUYỄN HUỲNH MAI

Tôi sống và sinh hoạt nghiên cứu từ hơn bốn mươi năm ở Bỉ nhưng cứ mỗi khi ai đó bàn về khác biệt văn hóa Âu Á tôi ... khó ở trong mình.

 

Chúng ta đều ở ngả tư của nhiều văn hóa là điều tôi vẫn dạy học trò tôi. Bốc đồng hơn nữa   tôi vẫn “minh chứng” với chúng là tôi thể hiện nhiều và sành văn hóa Bỉ hơn chúng dù tôi là  da vàng mũi tẹt (tôi đã sống lâu năm ở Bỉ hơn chúng văn hóa Bỉ là phạm vi nghiên cứu của tôi ...).

 

Thành ra nói cho cùng văn hóa đối xử thì ở đâu cũng thế thôi có cái hay mà cũng có cái không hay... Hai vợ chồng không cùng quốc tịch không có nghĩa là cuộc sống của họ sẽ khó khăn hơn.

 

Thế nhưng từ cái gốc “bài ngoại” hay “theo ngoại” quá đáng nhiều người vô tình đưa ra những khác biệt rất phiến diện làm một người du khách mĩm cười. Nhưng xét cho cùng không có một văn hóa nào đủ thuần nhất để cho phép ta nói “đó là cách đối xử theo Âu hay theo Á” nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa mà chúng ta đang sống hiện nay.

 

Tôi nấu cơm Việt nam ở nhà ? Đúng chúng tôi thường ăn cơm hơn ăn khoai tây vì nấu cơm nhanh hơn là gọt khoai tây cho cả nhà (rỏ ràng đúng là định nghĩa của văn hóa : chọn ra giải pháp thích hợp nhất trong một hoàn cảnh nào đó). Thậm chí lúc bé các con tôi hay đòi cơm. Không những ăn cơm với nước mắm mà cả với bơ với thịt bò chiên cá sốt sữa ... chúng bảo rằng “một ngày không có cơm như một ngày không có mặt trời”. Nhưng tuy ăn cơm mỗi ngày các con tôi vẫn sống ... như Tây với những thuận hòa và nghịch lý của một văn hóa hậu công nghệ.

 

Tôi sinh ra trong những năm chống Pháp. Ba tôi vắng nhà “thắng về nội thối về ngoại” tuổi thơ tôi lận đận sống nhờ bên họ mẹ thấm nhuần cái văn hóa phụ hệ trọng nam khinh nữ và là nạn nhân của cái văn hóa đó. Lớn lên nhờ Ba tôi trở về nên dễ thở hơn nhưng lại là lúc thấy rỏ cái “tam tòng tứ đức” của mẹ tôi sự hi sinh cao quí của người đàn bà thời ấy... Tôi đi học giửa chiến tranh chống Mỹ nhưng thành phố Sài gon lúc ấy chưa đầy hai triệu dân tình người vẫn ấm... Tựu chung tôi vẫn giử những kỷ niệm rất đẹp về làng tôi về gia đình về tình người về những năm mà tôi sống ở bên nhà.

 

Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn ... Quê hương tôi có con đê dài thẳng tắp bóng đa ôm đàn em bé nắng trưa im lìm trong lá ... Ôi bóng hình từ bao lâu còn ghi mãi sắc màu (Tình hoài hương Phạm Duy).

 

Những hình ảnh thanh bình nhân hậu đẹp và yên ả. Tôi yêu Hà nội với những bờ hồ thơ mộng với những hàng cây cao hơn nhà cửa với cái thanh lịch nhã nhặn uyên bác  của một số người ở thủ đô. Tôi yêu Sàigòn với cái thật thà tận lòng cởi mở của người miền nam với những nơi đi chốn về của tôi thời học trò.

 

Các con tôi sinh ra và lớn lên bên này khi lần đầu được về thăm quê mẹ các cháu trở lại châu Âu lâng lâng ấm trong tim với những tình cảm mà họ hàng chia sẻ lúc đón các cháu ...những kỷ niệm đẹp rất đẹp.

 

Đó là ở những năm cuối thế kỷ trước.

 

Gần đây ở Sàigòn cũng như Hà nội cao ốc mọc lên như nấm sau mưa giao thông quá tải kẹt đường suốt ngày ô nhiểm đủ thứ... và cái “bạo lực” thành đặc thù của nhiều liên hệ liên hệ với chính mình liên hệ với thiên nhiên hay liên hệ với người khác. Có thể ta đang sống một giai đoạn chuyển tiếp khó khăn về văn hóa ?

 

Bạo lực với chính mình ?

“Bạo chi” là một hình thức thi sắc đẹp ăn mặc hở hang “phô hàng” “phản cảm” là những hình thức khác. 

 

1. Nước ta còn nghèo còn biết bao nhiêu người không có cái ăn cái mặc trong khi có những người chi tiền không suy nghĩ để khẳng định “đẳng cấp” ? Mặc kệ ngày mai ? và nhất là mặc kệ tiếng nói của chính lương tâm mình khi cái lương tâm ấy biết là đồng hương chung quanh còn đói khổ ?

2.                 Các bà và các chị ta đã đấu tranh giành bình đẳng nam nữ nhất định từ chối vai trò “làm cảnh làm kiểng” của phụ nữ (femme objet). Thế nhưng gần đây một quí bà thành đạt là một quí bà có địa vị xã hội và có vòng 1 vòng 2 và vòng 3 “chuẩn”. Tôi rất quí các thiếu nữ và thật tình đau lòng khi các thiếu nữ ấy bị đo đạc kiểm định quan sát như người ta kiểm định một con ngựa giống trong các cuộc bán đấu giá quốc tế. Giá trị nhân bản của các cô ấy   xin tôn trọng một tí. Đó là một bạo lực được xã hội chấp nhận. Các thiếu nữ dự thi sắc đẹp không có trách nhiệm hoàn toàn vì cái cô ấy bị ảnh hưởng của một xã hội tôn vinh những hào nhoáng bề ngoài bất thường (cao 1 mét 75 hay 1 mét 80 đối với một phụ nữ Việt nam là ... bất thường). 

3.                 Người nghệ sĩ thông thường là những tinh hoa của xã hội vì họ sáng tác vì họ có tài ca hát diễn xuất ... Thế nhưng một số nữ nghệ sĩ hiện thời tự thấy cần phải khoe khoang thân thể ăn mặc hở hang ... Có cần không nhỉ ? Có phù hợp với định nghĩa cao quý của nghệ thuật không nhỉ ? Bán hình ảnh mình là tự xem mình như một món hàng trên thị trường !

 

Bạo lực với thiên nhiên ?

“Phát triển trước môi trường sau” tôi không nhớ ai đã nói câu đó. Nhưng ta đang khai thác tài nguyên xứ sở một cách quá đáng. Tàn bạo với thiên nhiên sau này con cháu ta sẽ phải trả cái nợ đó. Xin lỗi tôi biết dân Mỹ là dân gây ô nhiễm nhiều nhất (họ đã từ chối ký hiệp định Kyoto về môi trường) kế đến là Trung quốc ... nhưng đổ lỗi cho người khác để tự do yên tâm tàn phá môi trường à ? Tha hồ xả rác ô uế khắp nơi không là một giải pháp. Ô nhiểm về tiếng động trong các thành phố đang phá giấc ngủ của chúng ta mà đã có ai để ý đến chưa ? Mai mốt phát hiện ra nhiều bệnh tâm thần hay bệnh điếc thì e là hơi chậm trể. Phát triển đô thị quá tải là một trong những lý do gây ngập lụt vì cả thành phố thành bê tông không còn đất trống sông hồ ... đủ cho ngẩm thấu. Phá rừng để sản xuất gỗ cũng là một trong những lý do gây lụt lội nặng hơn ... đó là chưa nói tới ô nhiểm không khí và nguy cơ ung thư đường phổi ...

 

Bạo lực trong giao tiếp

Xin hảy đến một công sở hay một bệnh viện ở bên nhà để thấy cái cách biệt giửa người có quyền và ... dân đen. Ơ kia chính mỗi người dân đen là người góp phần sản xuất cho xã hội có cái ăn cái mặc ; chính người dân đen là người đóng thuế để trả lương cho  công nhân viên.

“Thương người như thể thương thân” ông bà ta đã dạy hồi xưa có thể bây giờ lỗi thời rồi. Đọc báo thấy đầy rẩy những tin giết người cướp của hảm hiếp. Trong một xã hội như thế rồi ta không có quyền ngạc nhiên khi giới trẻ không nghe lời bạo hành quấy nhiễu ở trường tung lên mạng những hình ảnh phản cảm (à lại hình ảnh phản cảm vai trò của báo chí trong việc đưa các hình ảnh về thân thể của người nổi tiếng có ai phân tích chưa ? ... ).

 

 

Tôi đang lo đến một nguy cơ : một sự việc nếu nó cứ lập đi lập lại mãi lâu dần thành thói quen thành cái “lệ” cái “thông thường” chừng đó khó chửa lắm. Trong xã hội học chúng tôi biết là 30 năm hay một thế hệ là một thời gian đủ để một việc lúc đầu là “bất thường” trở thành “qui củ” “khuôn vàng thước ngọc” được mọi người chấp nhận ...

 

Tôi chỉ mong rằng những sự kiện như : mặc ai nấy sống ai giàu nghèo
mặc ai tiền bạc cao hơn lễ nghiã bất bình đẳng xã hội hối lộ gian
trá người đẹp và đại gia được nâng lên hàng "gương mẫu"  và
muôn vàn cái "bất ổn" khác... chỉ là những bất ổn tạm thời. Sau đó ta đi đến những tiếp cận thông minh giử cái tinh hoa của mình và hội nhập vào trào  lưu của nhân loại.

 

Cái khó ở của tôi là tâm trạng của một người hàng ngày phải đối xử với những giằng co văn hóa của mình chẳng hạn như thờ chồng và nuôi con theo khuôn mẫu của mẹ tôi đồng thời đòi nam nữ bình quyền như một phụ nữ có học ở Âu tây.

Cái khó ở của tôi cũng đi từ là vài thiết tha của những người thuộc thế hệ tôi trước những biến đổi “quá nhanh” trong liên hệ xã hội ở các thành phố bên nhà.

 

Bây giờ đã viết xong được cái “ khó ở trong mình” tôi có thể trình bày thoải mái một vài điểm về văn hóa tiếp xử mà tôi đã có dịp quan sát ở Bỉ với những phân tích “nguyên nhân và hậu quả” của các điểm ấy.

 

Nguyễn Huỳnh Mai

More...

10 QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐI HỌC

By Trần Quang Đại

Quyền của người đi học.

 

 

Giới thiệu tác giả :

 

Philippe Perrenoud sinh năm 1944 là một đại thụ của ngành sư phạm của Đại học Genève (Thụy sĩ) từ hơn 30 năm nay và là bậc thầy của hai thế hệ nhà giáo - thế hệ của những năm 1975 và thế hệ 2000 -  ở châu Âu từ đó. Ông đã nghiên cứu  và xuất bản hàng trăm công trình về phương pháp giảng dạy xã hội học về giáo dục nghề đi dạy tâm lý trẻ em trong quá trình học tập ...

 

“Quyền không xóa bỏ được của người đi học” là một bài  viết đăng trên các tạp chí khoa học năm 1995 không phải để bảo vệ học sinh mà thực ra là đề cập đến những lý do rất sư phạm – để dạy hữu hiệu hơn - tại sao phải tôn trọng người đi học. Qua bài này Perrenoud cho ta thấy những khía cạnh rất khoa học phải tôn trọng học sinh và đồng thời ông thể hiện cả triết lý và tấm lòng của một người đi dạy suốt đời cặm cụi hy sinh cho lý tưởng sư phạm cho học trò ...

 

Dưới đây là tóm lượt  10 quyền không xóa bỏ được của người đi học.

 

 

1. Quyền không phải chuyên cần chăm chú suốt buổi học. Làm sao ngồi yên suốt 6 giờ học mỗi ngày ở trường ? Khả năng chú ý y khoa đã chứng minh   là tùy theo tuổi các em   từ 20 đến 40 phút sau đó phải giải trí phải chạy nhảy đi chơi rồi mới tiếp tục học được. Nếu không các em ngồi đấy mà trí óc lãng du ở chốn nào khác chứ không thể chăm chú nghe thầy. Học là một công việc trí tuệ mà không ai có khả năng làm việc trí tuệ suốt 4 hay 6 giờ liên tục. Thế giới bên kia cửa sổ cây cối mặt trời ngoài sân chim hót ... đều rất hứng thú. Nếu các em đảng trí nhìn ra sân thì cũng dễ hiểu thôi. Nhiều trường trên thế giới tổ chức những sinh hoạt thể thao giải trí đi ngoài trời ... xen kẻ với việc học. Ngay trong mỗi tiết học có những giáo viên thỉnh thoảng dừng lại để trò có thể hát tán gẩu trong hai ba phút xong lại tiếp tục bài giảng.

 

2. Quyền có thế giới riêng của mình mà không ai được xâm phạm cái "vườn bí mật" của em mà em có quyền bảo vệ không phải giải thích chia sẻ cho ai cả. Thầy giáo không được gạn hỏi về cái riêng tư của em. Lớp học là một nơi công cộng dưới sự kiểm soát của bạn bè và nhất là của giáo viên. Nhưng mỗi em có quyền có những xúc cảm riêng. Việc học là một thao tác cá nhân. Dĩ nhiên giáo viên phải biết một số chi tiết đặc thù của học trò mình để có thể “tùy cơ ứng biến” uyển chuyển áp dụng những phương pháp thích hợp nhất. Nhưng vẫn phải tôn trọng xúc cảm thế giới riêng của các em. Không bị “xâm phạm” giúp các em học nhanh hơn học tốt hơn nhớ dai hơn và giử những kỷ niệm đẹp của thời đi học. Sống chung học chung là một chuyện không ai chối cải. Nhưng có những giới hạn : phần riêng tư của các em cũng phải được tôn trọng.

 

3. Quyền chỉ học những điều có ý nghĩa. Có những giáo viên bảo rằng “nếu tôi phải giải thích hết thương lượng với các em cho từng tiết mục thì sẽ mất biết bao là thì giờ làm sao dạy hết chương trình ?” Nhưng không thể nào cho vào đầu trẻ bất cứ điều gì. Giải thích giáo đầu tuồng trước mỗi tiết mục có vẻ làm mất thì giờ thật đấy nhưng khi đã gây hứng thú cho các em khi các em hiểu rỏ “nguyên nhân hậu quả” của tiết học   các em sẽ hấp thụ nhanh hơn.  Muốn cho các em học tích cực  thì  phải cho các em thấy ý nghĩa lợi ích cho các em thích để các em “vào cuộc” học cho chính mình tích cực học... Người xưa vẫn nói phải làm sao tạo cho học trò có những cái đầu biết suy nghĩ chứ không nhét đầy vào đó những kiến thức không xài được (Montaigne une tête bien faite plutôt qu une tête bien pleine).

 

 

4. Quyền không phải vâng lời sáu tiếng mỗi ngày ở trường. Trật tự và kỷ luật rất cần để sống với tập thể nhưng cái trật tự và kỷ luật  phải được thấu đáo phải có đền bù ...Nếu thỉnh thoảng các em không "ngoan" thì phải được cảm thông.  6 giờ học mỗi ngày ở trường đã được tổ chức bởi người lớn vì nhu cầu của sinh hoạt xã hội các em học cách sống cùng với xã hội nhưng xã hội cũng phải tôn trọng cá thể của các em. Người lớn đâu có bị bắt buộc phải vâng lời ai suốt ngày ? Vâng lời bị cho vào tình trạng thụ động thì làm sao các em phát triển và trở thành tự lập được ? Ngược lại khi “được quyền thỉnh thoảng không vâng lời” các em sẽ  tự thấy được kính trọng và từ đó ý thức rõ hơn bổn phận phải sống với tập thể. Cái chế tài “uyển chuyển” ở trường tránh phát sinh những “phương sách trốn chế tài” gây ra thói quen không chân thật dối trá kiểu “không có cảnh sát giao thông bắt phạt thì tha hồ vi phạm luật đi đường” ...

 

 

5. Quyền được cử động di chuyển. Tại sao bắt các em ngồi một chỗ ?  Và giữ im lặng nữa. Trong khi thầy giáo thì có quyền đứng dậy ngồi ở góc bàn đi tới lui trong lớp ? Bị gò bó không được chạy nhảy thậm chí không được đụng tới hay “chơi” với vật để trên bàn như bút thước kẻ ...Còn trẻ các em đầy sinh khí. Phải kìm hảm cái sinh khí ấy trong suốt giờ học. Thảo nào đến lúc nghe chuông cuối giờ các em ào ào tranh nhau ra sân như vừa ... thoát nợ. Tổ chức sinh hoạt trong lớp một cách sống động sẽ trả lời được nhu cầu này của các em. Chấp nhận việc các em “tái mái” với các đồ vật ở tầm tay hay nghịch vặt với bạn ngồi gần là tôn trọng quyền được cử động của các em.

 

 

6. Quyền không phải giữ tất cả những lời hứa. Cha mẹ và thầy giáo thường bắt trẻ phải hứa đủ thứ : phải đi học đúng giờ phải học bài làm bài phải có điểm tốt phải đứng đầu lớp ... nếu các em thực hiện được hết những gì người lớn chờ đợi thì các em đã là ... thần thánh mất rồi chứ không còn là trẻ con nữa. Ngoan ngoản đại đa số các em đều “hứa” tất cả những gì người lớn “bảo phải hứa” thì làm sao các em thực hiện hết được ? Xin đừng làm cho các em mang mặc cảm tội lỗi khi nhắc “mà con đã hứa điều đó hôm qua” - Trẻ có quyền không giử hết các lời hứa tại vì các em đã bị bắt buộc phải hứa nhiều điều vượt quá khả năng của các em. Ngoài ra nếu phải lệ thuộc những gì người lớn bắt phải hứa trẻ có thể thành giả dối ngụy trang hành động của mình để không bị phạt.

 

 

7. Quyền không thích đi học và nói lên điều đó. Ở Việt Nam đại đa số người lớn cũng như trẻ em đều nghĩ rằng được đi học là một may mắn là một hạnh phúc vì tương lai sẽ sáng sủa hơn. Trẻ ở châu Âu bị bắt buộc phải đi học tới 16 hay 18 tuổi – giáo dục cưỡng bách – Tại sao phải đi học khi còn trẻ ? Vì người lớn đã quyết định như thế ? Vì luật bắt buộc như thế ?  Trong tuyệt đối một cá nhân có quyền chọn cách sống thích hợp cho bản thân chẳng hạn chỉ đi học khi cần. Dĩ nhiên điều này khó chấp nhận vì trẻ chưa biết nhìn xa suy sâu nghĩ rộng. Thế nên ta bắt buộc trẻ đi học nhưng đồng thời ta phải chấp nhận cho trẻ quyền không thích đi học và phát biểu điều đó. Đấy là cơ hội để ta có thể cổ động giải thích về lợi ích của học hành cho các em ấy. Cảm thấy được tôn trọng các em ấy sẽ từ từ tôn trọng người đối diện và đi tới việc chấp nhận sự học hành. Đối thoại thường xuyên với các em không những để hiểu các em hơn mà còn để các em bày tỏ sở thích cái các em yêu hay ghét để có thể co giản chương trình cùng các em hay ít nhất là co giản mức đòi hỏi của người lớn đối với các em.

 

 

8. Quyền lựa chọn với ai các em sẽ làm việc. Trường học là nơi tập tành các em sống cùng với xã hội hòa đồng với tất cả mọi người. Mới nhìn qua quyền lựa chọn đối tác ở trường  có vẻ không tưỡng và nó đi ngược lại với sứ mạng vừa kể trên của trường học. Có nghĩa là trò chọn thầy ở đây ? Không hẳn như vậy nhưng thật sự có những em rõ ràng là “ngồi nhầm lớp” không “hợp” với thầy cũng không “hợp” với bạn. Thông thường   mỗi ngày ở lớp giáo viên khi sinh hoạt nhóm cho phép các em tự chọn bạn trong nhóm chọn chổ ngồi trong lớp ...  Việc học là một thao tác vừa là trí tuệ vừa tâm lý và xã hội. Nếu hội đủ được nhiều điều kiện tiện nghi về xã hội và tâm lý các em làm việc trí tuệ tốt hơn. Thế nên trong chừng mực mà sinh hoạt cho phép tại sao không tôn trọng quyền lựa chọn bạn “đồng hành” của các em ? Ngoài ra với những trường hợp “căng thẳng” hơn thì việc đổi trường hay đổi lớp có thể là cần thiết.

 

 

9. Quyền không “hợp tác với bản án kết tội mình”. Trong một toà án trước khi tuyên án quan toà ít nhất phải nghe “bị cáo” trình bày. Bị cáo còn được luật sư bảo vệ. Ở trường giáo viên đơn phương đánh giá học trò. Không hỏi ý kiến của học trò cũng không cho phép học trò “phá án” hay phản đối kết luận đánh giá của giáo viên. Cái “bản án học hành” mà trường “phán” đối với trò là một bản án thiếu dân chủ không tôn trọng người đi học thiếu cảm thông với những hoàn cảnh đặc thù. Ít nhất nhiều người thừa nhận rằng đánh giá của giáo viên thường thiếu khách quan. Sự xếp hạng học trò theo một cái đánh giá chủ quan vì thế không còn giá trị nữa.  Giáo viên lại thường hay tỏ ra khó chịu khi học trò đặt câu hỏi về điểm xếp hạng ... Vậy mà từ bao nhiêu thế kỷ nay trường học sinh hoạt theo mô hình ấy. (Thảo nào ở nhiều nước trên thế giới sự đánh giá học sinh dần dần bị loại bỏ). Và ta phải tập cho học sinh thao tác tự đánh giá việc học của mình.

 

 

10. Quyền được hiện hữu như một người. Có thể đây là tiến bộ quan trọng nhất mà ta đã làm trong nửa thế kỷ vừa qua : tôn trọng nhân quyền không còn là một xa xí phẩm mà là một điều căn bản. Học trò có quyền được tôn trọng như một cá thể khác với các bạn cùng lớp. Em có quyền không yêu Toán hay không thích văn chương em có quyền học nhanh hay học chậm viết bằng tay phải hay tay trái ... Dĩ nhiên khó mà tưỡng tượng một lớp học mà giáo viên phải chú tâm để ý đến cá biệt của mỗi trò nhưng đấy không phải là một lý do để gạt qua bên quyền có cá thể riêng của mình của mỗi em. Trong chừng mực nào đó giáo viên cần làm tốt nhất để các em có thể giử độc lập của mình học hành và tiến triển không so sánh các kết quả giửa những học sinh cùng lớp cùng trường. 

 

 

 

 

Quyền của người đi học và sư phạm ?

 

Không ai có thể học thực sự dưới sự đe dọa chế tài sự chán nản lo sợ ... Tôn trọng quyền của người đi học là một vấn đề triết lý nhưng nó cũng nằm trong phương pháp sư phạm có thể là nền tảng của cách dạy học nữa.

 

Cái khổ là ta thừa hưởng một quá khứ khó mà gội rửa trong một ngày hay trong một năm học. Văn hóa đối xữ bất bình đẳng giửa thầy-trò sự tùy thuộc của trò vào qui chế trường học chấm điểm xếp hạng thi cữ ... Phải làm sao đây để các em học vui học có hiệu quả   trong tinh thần được tôn trọng để từ đó các em tôn trọng các thành viên khác trong xã hội ?  Chắc là phải đồng lòng cùng với ban quản lý cùng với các đồng nghiệp cùng giảng giải ngọn ngành với các học sinh để tất cả cùng chung sức thay đổi văn hóa học và dạy.

 

Nguyễn Huỳnh Mai (Liège Bỉ)

More...

Tìm hiểu quan niệm của người Trung Quốc cổ đại về phụ nữ

By Trần Quang Đại

                                                                                  TRẦN QUANG ĐẠI

      Trước đây có một nữ đồng nghiệp tên là A Na tôi cứ nghĩ là cách đặt tên theo tiếng Tây. Về tra từ điển Hán Việt kết quả hoàn toàn khác: 婀娜 (A Na) nghĩa là mũm mĩm mềm mại xinh đẹp thướt tha. Tôi đồ rằng bố hoặc ông nội cô gái kia là một nhà Nho mới chọn một cái tên rất đẹp để đặt cho con (cháu) gái. Hai chữ A Na đều có bộ 女 (nữ) nghĩa là phụ nữ. Từ vựng tiếng Hán có rất nhiều chữ có bộ “nữ”. Xem tập hợp này có thể phần nào thấy được quan niệm của người Trung Quốc cổ đại về phụ nữ.       

“Nữ nhân nan hoá”

   Khổng Tử quan niệm “Nữ nhân nan hoá” nghĩa là phụ nữ đàn bà là tiểu nhân không thể dạy bảo giáo dục được. Đây là cơ sở của quan niệm trọng nam khinh nữ còn di hại đến bây giờ. Xuất phát từ quan niệm đó trong tiếng Hán có nhiều chữ có bộ “nữ” chỉ những thói hư tật xấu cách ứng xử đáng chê trách. Ví dụ: 姦 (gian): gian dối gian tà với biểu tượng ba người phụ nữ ở với nhau; 嫌 (hiềm): nghi ngờ; 嬾 (lãn): lười biếng; 婞 (hạnh): ương ngạnh ngoan cố; 娸 (kỳ): nhạo báng; 媮 (du): cẩu thả phù phiếm; 媢 (mạo): ghen ghét; 孅 (tiêm): nhỏ nhặt; 嫉 (tật): ganh ghét đố kị; 媟 (tiết): dâm dục; 媚 (mị): nịnh bợ lấy lòng; 妄 (vọng): viễn vông ẩu xằng bậy; 婪 (lam): tham lam; 妒 (đố): đố kỵ; 妨 (phương): làm hại ngăn trở…       

     Chữ 如 (như) là một trường hợp khá thú vị. “Như” trong kết hợp “giống như tựa như” biểu thị quan hệ ngang bằng hoặc tương đồng trong sự so sánh gồm bộ “nữ” và chữ 口 (“khẩu”) nghĩa là miệng. Phải chăng người Trung Quốc xưa muốn nêu lên đặc tính hay nói hay so sánh so bì của phụ nữ?

  Phụ nữ biểu tượng của cái Đẹp

  Nhưng thật sai lầm nếu cho rằng bộ “nữ” trong chữ Hán thường gắn với cái xấu cái tệ hại. Bên cạnh những chữ kể trên tiếng Hán có rất nhiều chữ có bộ nữ thể hiện những điều tốt đẹp kì diệu may mắn.  

   Trước hết chữ  女 (nữ) là chữ tượng hình biểu tượng người có bụng to thể hiện thiên chức sinh sản cao quý của người phụ nữ. Chữ 姓 (tính) nghĩa là họ bao gồm bộ nữ và chữ 生(sinh) xuất phát từ chế độ mẫu hệ con mang họ mẹ. Chữ 始 (thuỷ) nghĩa là bắt đầu phải chăng cũng thể hiện phụ nữ là người đã tạo ra thế giới?

   Chữ 好 (hảo) nghĩa là tốt đẹp xong đồng ý… với biểu tượng chữ nữ (mẹ) và chữ 子 (tử) là con ôm ấp nhau. Có tình cảm nào cao quý sâu sắc thiêng liêng hơn tình mẫu tử! Chữ 好 còn có một âm đọc nữa là “hiếu” nghĩa là yêu thích ham thích cũng không nằm ngoài biểu tượng đã lí giải.

 Chữ 妙 (diệu) với nghĩa hay tuyệt đẹp kỳ diệu được tạo nên bởi bộ nữ và chữ 少 (thiếu) nghĩa là trẻ tuổi. Bây giờ vẫn không ít người cho rằng quan niệm “phụ nữ là phái Đẹp” xuất phát từ phương Tây song từ mấy ngàn năm trước Công nguyên người Trung Hoa đã đề xuất quan niệm này qua cách cấu tạo chữ “diệu”. Chữ 嬍 (mỹ) nghĩa là đẹp cũng có không thể thiếu bộ nữ đứng đầu. Chữ (an) nghĩa là yên ổn bình an có bộ 宀 (miên  nghĩa là mái nhà) và chữ nữ với hàm nghĩa hạnh phúc gồm có mái nhà và người vợ. Cũng có cách hiểu khác là người phụ nữ chỉ bình yên khi có một mái nhà chở che.

   Người Trung Quốc xưa đặc biệt quan tâm đến phụ nữ thể hiện một số lượng từ ngữ phong phú để thể hiện vẻ đẹp của nữ giới. Bây giờ có rất nhiều cuộc thi hoa hậu nhưng số từ ngữ để “gọi tên” vẻ đẹp của người phụ nữ khá là ít ỏi quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mấy chữ xinh đẹp rồi thêm mấy chữ “rực rỡ rạng ngời thuỳ mị”…Tìm hiểu về chữ Hán thật ngạc nhiên khi thấy số lượng lớn những từ chỉ dáng vẻ phụ nữ.

  Ví dụ: 媺 (mỹ): đẹp ; 娪 (ngô): cô gái đẹp; 婵娟 (thiền quyên): xinh đẹp thướt tha; 婘 (quyền): xinh đẹp; 娈 (luyến): tươi tắn; 婷 (đình): cô gái đẹp; 姿 (tư): dáng dấp thuỳ mị; 妍 (nghiên): tươi tỉnh xinh đẹp; 嬌 (kiều): xinh đẹp mềm mại đáng yêu; 姍 (san): dáng đi thướt tha; 娥 (nga): tốt đẹp; 姚 (diêu): vẻ mặt đẹp; 嫿 (hoạ): vẻ đẹp thuỳ mị nữ tính; 嬿 (yến): đẹp; 婠 (loan): hình dáng đẹp gợi cảm; 媛 (viên): cô gái đẹp; 嫻雅 (nhàn nhã): dáng dấp dịu dàng; 婉娩 (uyển vãn): thuỳ mị; 嫽 (liêu): tốt đẹp thông tuệ…Chứng tỏ người Trung Quốc xưa đã rất sâu sắc tinh tế trong quan sát đánh giá phụ nữ.

  Gặp phụ nữ đẹp thì dễ bị cuốn hút đam mê không dứt ra được. Người xưa đã nói: “Vũ vô kiềm toả năng lưu khách sắc bất ba đào dị nịch nhân” (Mưa không có kìm khoá vẫn giữ được khách sắc đẹp không có sóng mà vẫn làm người ta chết đuối) hay “Anh hùng khó qua ải mĩ nhân”. Do đó chữ Hán có chữ 娓 (vỉ) nghĩa là say sưa không dứt chữ 婬 (dâm) quá đáng bừa bãi…đều có bộ nữ. Âu cũng là cảnh tỉnh người đời.

     Quan niệm của người Trung Quốc cổ về phụ nữ là vô cùng. Nhân ngày 8/3 có vài chuyện góp vui cùng bạn đọc.

 

 

More...

LUÂN HỒI MỘT QUY LUẬT KHÁCH QUAN

By Trần Quang Đại

                                                            BS ĐẠO TRƯỜNG

Luân hồi là một khái niệm trong Phật học thể hiện một quy luật vận động của thế giới mà ta có thể xét cụ thể ở đời người. Có nhiều ý kiến khẳng định hoặc phủ định quy luật này. Các bạn có thể đọc ý kiến phản biện luân hồi của một số nhà khoa học do Tiến sĩ Đỗ Kiên Cường tổng hợp và trình bày trên chungta.com (http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Con-Nguoi/Giai_ma_cac_hien_tuong_di_thuong/#Ky_1). Và (http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Con-Nguoi/Hien_tuong_luan_hoi_duoi_quan_diem_khoa_hoc/). Đứng trên góc nhìn của một người bác sĩ theo khoa học tây phương hiện hành đồng thời là một Phật tử tôi thấy cần có ý kiến phản biện lại những lập luận phủ định luân hồi của các nhà khoa học trên trên thế giới. Tôi thấy rằng tư duy lý luận của họ chưa thực sự khoa học.

Thuyết luân hồi trong Phật học không liên quan gì đến khái niệm linh hồn của quảng đại quần chúng. Cũng không liên quan gì đến với việc bói toán.Vì vậy phủ nhận không có linh hồn để kết luận không có luân hồi là hoàn toàn sai lầm. Chứng minh bói toán là xảo thuật để kết luận không có luân hồi càng sai lầm hơn nữa. Chính Đức Phật cũng đã khẳng định không có linh hồn. Nhưng đức Phật biết được trong con người có Tâm thể xác và tâm tạo nên con người sống động có tình cảm và lý trí. Vì sao Đức Phật biết được điều đó? Bởi vì ngài có những cảm nhận tinh tế những sự kiện tồn tại và diễn tiến khách quan cùng với khả năng tư duy siêu việt ( sâu rộng và nhanh) nhờ kỹ thuật thiền định hoàn hảo. Đây là nhận định dựa trên thế giới quan khoa học và cách cảm nhận tư duy thông thường hiện nay. Đứng ở vị trí ngoài khoa học và sự hiểu biết thông thường của loài người thì người ta biết rằng ĐứcPhật có giác quan đặc biệt có thể nhìn tổng thể lẫn chi tiết của vũ trụ khảo sát hằng hà sa số những nền văn minh khác nhau. Thế nhưng để dạy cho loài người với ngôn ngữ và sự hiểu biết cách nay 2500 năm ( và cả ngày nay nữa) thì đức Phật không thể mô tả Tâm một cách đơn giản cô đọng được ( ví dụ như một dĩa phần mềm tin học chẳng hạn. Ngài phải mô tả tâm như là đất dày ( nghĩa là một môi trường vật chất đặc biệt -thần chất miền tánh không) chứa các chủng tử ( thông tin) quyết định sự tồn tại và phát triển thể xác và tinh thần của một con người. Trong tâm có hệ điều hành đức Phật ẩn dụ là Diêm vương trong diêm vương ( hệ điều hành) có chương trình lưu trữ liên hệ phân tích giúp nhận định điều phối ngài ẩn dụ là chiếc gương của diêm vương ....vv . Như vậy Tâm là một thực thể thuộc thế giới siêu hình và thế giới siêu hình trong triết Phật là một dạng vật chất đặc biệt mà với ngũ quan thông thường con người không cảm nhận được – vượt ra ngoài thế giới vật lý. Do đó không có thông tin về nó hậu quả là không thể tư duy về nó. Có những môn phái trong đạo Phật giúp người ta tu luyện để có được giác quan cảm nhận được thần chất miền tánh không cảm nhận được thế giới siêu hình và tư duy về thế giới siêu hình.

Như vậy có một sự hiểu biết khác nhau về khái niệm vật chất khái niệm tinh thần giũa các nhà khoa học phương tây và các nhà khoa học Phật học. Khi các nhà khoa học phương tây đòi chứng cứ vật chất chứng minh cho khái niệm Tâm hay Luân hồi các nhà khoa học Phật học đưa ra thần chất miền tánh không thì các nhà khoa học phương tây và hầu hết loài người không thể nào cảm nhận được. Nên kết luận không có chứng cứ vật chất. Thật là ngớ ngẩn khi những người mù đòi xem chứng cứ khi người ta trình ra chứng cứ ( là chất khí không mùi có màu xanh chẳng hạn) thì phản bác không có chứng cứ vì chúng tôi hoàn toàn chẳng thấy gì. Sau đây là một vài ý kiến phản biện khác:

1/ ký ức ẩn dấu: là một số thông tin ta ĐÃ TỪNG ĐƯỢC NHẬN ĐÃ BIẾT ÂM THẦM NGAY TRONG ĐỜI NÀY TỪ LÚC NÀO MÀ TA KHÔNG HAY. Nay ta nhớ lại mà tưởng rằng đó là ký ức – là bằng chứng của sự luân hồi từ một kiếp trước. Không thể dùng hiện tượng ký ức ẩn dấu để phản bác những trường hợp chính thức được coi là bằng chứng hiển nhiên của luân hồi. Đơn giản chỉ vì những trường hợp này đã được khảo sát kỹ và xác nhận rằng hoàn cảnh ( thời gian và không gian cùng những mối quan hệ gia đình xã hội) không thể cung cấp một chút thông tin nào tình huống thông tin đã từng được nhận biết ( trực tiếp hay gián tiếp) chắc chắn không xảy ra. Ngược lại muốn có ký ức ẩn dấu thì phải có kỹ năng thu nhận và lưu trữ thông tin. Nếu việc thu nhận và lưu trữ thông tin được chứng minh là đã xảy ra từ lúc nào không rõ nhưng chắc chắn không có tí gì từ kiếp này nay bộc lộ ra thì ký ức này chứng minh có sự luân hồi. Có nghĩa là chính cơ chế ký ức là cơ sở cho việc có lưu trữ thông tin biểu hiện sự luân hồi.

Cần lưu ý rằng thế giới vận động thay đổi liên tục ( vô thường tấn tốc) do đó cả tỷ chuyện diễn ra trong đời não ta đã nhận được nhưng rồi quên gần hết quên trong từng phút giây ngay trong cõi đời này. Quên vì cần phải quên và quên vì thân não ta cũng thay đổi từng giây từng phút . Sự luân hồi cũng là sự tiếp nối vận động. Hầu hết chúng ta quên dần đến mức quên sạch không có ký ức về những giai đoạn vận động trước đây ( tuổi trẻ thời niên thiếu lúc sơ sinh trong bụng mẹ và xa hơn nữa là những kiếp trước) cho nên ta không nhớ được và không nhận thức được sự luân hồi.

Chúng ta cũng cần lưu ý rằng việc DÙNG các BIỂU HIỆN GIÁN TIẾP của luân hồi( nhớ được những quan hệ những sự kiện ở kiếp trước) hay của bất kỳ tồn tại khách quan nào (một hành tinh một hạt cơ bản.....) ĐỂ CHỨNG MINH CÓ LUÂN HỒI HAY MỘT TỒN TẠI KHÁCH QUAN LÀ HOÀN TOÀN KHÔNG ĐỦ CHỈ CÓ GIÁ TRỊ GỢI Ý. Phải thực chứng được hoặc thực hành được luân hồi hay một tồn tại khách quan mới có ý nghĩa chân lý . Việc thực chứng phụ thuộc năng lực và điều kiện của từng người. Nhiều nhà phật học “ thấy” rõ Tâm hoặc Luân hồi qua giác quan đặc biệt mà chúng ta không có. Có nhà phật học lại còn thực hành luân hồi để chứng minh có sự luân hồi. Những điều này cũng khá giống chuyện vài nhà thiên văn nhìn thấy được các hành tinh ở chốn xa xôi vài nhà Vật lý “thấy” được hoặc tạo được các hạt cơ bản trong khi hầu hết nhân loại không có khả năng thực chứng hay thực hành những việc đó. Có điều khác là các nhà thiên văn hay các nhà vật lý chỉ khảo sát thần chất vật lý tức là những vật chất mà ngũ quan của con người có thể cảm nhận. Do đó các bằng chứng mà các nhà thiên văn Vật lý đưa ra mọi người cũng có thể cảm nhận tư duy và dễ chấp nhận. Trong khi có trường phái trong Phật học khảo sát không chỉ ở mức độ vật lý ( thần chất miền tánh có) mà còn khảo sát thần chất miền tánh không – vượt ra ngoài thế giới vật lý - là thế giới siêu hình mà ngũ quan không cảm nhận được nên loài người hầu như không nhận thức được.. DÙNG NHỮNG BIỂU HIỆN GIÁN TIẾP RỒI DỰA TRÊN NHỮNG SỰ GIÁN TIẾP ĐÓ MÀ LÝ LUẬN SUY LUẬN ĐỂ KHẲNG ĐỊNH HAY PHỦ ĐỊNH BẤT CỨ ĐIỀU GÌ ĐỀU LÀ SAI LẦM. về mặt lý luận khoa học đòi khẳng định phải có chứng cứ vật chất thì phủ định cũng phải có chứng cứ vật chất. Không thể phản bác bằng lý luận suông như " tâm lí học chỉ xem đó là sự kết hợp kì lạ...." . Những chữ CHỈ XEM KỲ LẠ là hoàn toàn duy ý trí và ngụy khoa học.

2/ Dejàvu: trạng thái tâm lý khi ta đến một nơi gặp một hoàn cảnh hoàn toàn mới lạ mới lần đầu mà ta đã có cảm giác đã biết từ lâu rồi. Tâm lý học phương Tây không giải thích được hiện tượng này. Duy thức học trong Phật học giải thích dễ dàng và rất khoa học qua cơ chế tưởng thức. Không thể dùng hiện tượng dejàvu để giải thích những thông tin trên những trường hợp điển hình luân hồi. Bởi vì những thông tin được coi như những chứng cứ hiển nhiên sự luân hồi là những thông tin chứa đựng và biểu lộ sự HIỂU BIẾT về biến cố khách quan những thông tin trong dejàvu chứa đựng và biểu lộ CẢM GIÁC

3/Đọc nguội: là một khả năng người nào cũng có thể có nhưng chỉ thực sự có qua quá trình học và rèn luyện gian khổ. thông minh như Einstein cũng không có nếu không học. Tất cả các nhà bác học trên thế giới hiện nay kể cả những người phát hiện kỹ năng đọc nguội đều không đọc nguội được bất cứ thông tin nhỏ nhoi nào từ người khác – họ chỉ nói mà không tài nào làm được. Những trường hợp được coi là bằng chứng luân hồi ( đa số được phát hiện khi còn là những nhóc tì vài tuổi nói chưa sõi) không có người nào học hay tu luyện kỹ năng đọc nguội cả.

4/ Hiệu ứng Hans thông minh:dùng luận thuyết này để phản bác luân hồi là hoàn toàn nguỵ khoa học. Các nhà khoa học không chịu động não xa hơn một chút: tại sao trong hàng trăm ngàn con ngựa chỉ có vài chú có được khả năng như Hans?. Về mặt khoa học không thể dùng cái riêng lẻ tẻ làm đại diện cho cái chung cái quy luật. Không thể lý luận một con Hans làm được như vậy thì tức là loài ngựa làm được như vậy nghĩa là động vật bậc thấp làm được như vậy thì loài người đương nhiên là làm được hơn . Kỹ thuật nghe nói bằng cách đọc biểu hiện môi và nét mặt cho những người điếc bẩm sinh hay khoa học phản gián ( phân tích các phim gián điệp câm) rất phức tạp người ta học muốn điên cái đầu mới có được. Các con thú trong các gánh xiếc có thể “làm” toán nhưng chỉ là vài ba phép tính đơn giản được mã hóa đơn giản thành những hiệu lệnh điều khiển phản xạ có điều kiện. Ấy vậy mà người huấn luyện thú cũng phải đổ vã mồ hôi và tốn thời gian luyện chúng. Khi trình diễn không được phép vượt qua mấy hiệu lệnh đơn giản đã học đó chất lượng thông minh quá thấp – thấp đến mức có thể coi như không có thông minh . Ngược lại người có biểu hiện luân hồi khi đi đến gặp gia đình cũ của mình người ta không được hỏi những câu mà câu trả lời đơn giản là "đúng" hoặc "sai" do đó không thể nào đọc nguội thông tin hiệu lệnh đơn giản trên nét mặt cử chỉ hành động của người khác . Ví dụ "Đây có phải chị Anna không?". Mà mọi người Im lặng đối tượng tự chủ động:Đây là chị Anna kia là emB và đây là bác.C...và kể những kỷ niệm riêng tư của họ..Làm gì mà một người hoàn toàn không có thông tin có thể đoán ra được tên cho một người mới gặp lần đầu? sáng tác chính xác những kỷ niệm thầm kín phức tạp nêu lên hàng loạt biến cố trong đời người đã chết?. Thật ra Hans và các con thú trong gánh xiếc trên khắp thế giới cho ta thấy súc vật gia cầm ...đều có tư duy cho dù tư duy đó còn quá thô sơ so với loài người. Nếu bạn học Phật học bạn sẽ hiểu chính Hans là biểu hiện điển hình của một sự luân hồi. Dùng hiện tượng Hans để chứng minh là có luân hồi chứ không phản bác luân hồi.

5/Phân ly nhân cách: Dạng trục trặc về tâm thần này làm người ta " mê tạo" ra nhiều nhân cách khác nhau không phải của mình mà chính chủ thể cũng không hiểu được rằng đó là giả tạo. Người Phân ly nhân cách luôn tạo nhân cách mình theo khuôn mẫu người khác phụ thuộc vào sở thích và những hiểu biết của mình: nhập vai một thầy giáo một bác sĩ một nghệ sĩ hoặc anh A anh B nào đó mà đã từng biết rõ . Không thể nhập vai chính xác một khuôn mẫu mà mình hoàn toàn chưa từng biết như trong luân hồi.

6/ Tâm lý học: khi nghiên cứu tâm lý và lý trí trẻ sơ sinh là những cá thể từ tâm đến thân như một tờ giấy trắng nhiều nhà khoa học giật mình vì có những biểu hiện lý trí của những cá thể này chỉ giải thích được bằng luân hồi.

Tóm lại Luân hồi là một quy luật một sư thật vận động khách quan. Sự tồn tại của ta là bằng chứng của sự luân hồi mà ta không nhớ không thấy và không biết. Chỉ có một số rất ít trường hợp biểu hiện của luân hồi vẫn còn tồn tại biểu hiện vật lý rõ ràng có thể cảm nhận bằng ngũ quan thông thường và có logic nên là bằng chứng rất có ý nghĩa gợi ý có sự luân hồi. Nhiều nhà khoa học hiện nay chưa thực sự hiểu rõ thuyết luân hồi nhưng đã vội vàng tích cực phản bác thuyết này. Mọi lý luận phản bác luân hồi hiện nay vẫn chỉ là duy ý chí hoặc duy vật thô sơ ngụy khoa học.

Nguyên nhân của sự ngụy khoa học là do kiến thức khoa học chưa đủ sâu và tư duy khoa học còn nhiều sai lầm mang nặng cảm tính và có xu hướng cực đoan ( duy tâm hoặc duy vật). Nhiều nhà khoa học duy vật bị sa bẫy bệnh duy ý chí duy tâm một cách tinh vi và ngọt ngào nên họ không hay. Họ chỉ có đơn thuần CẢM GIÁC MƠ HỒ rằng luân hồi là một khái niệm siêu hình là kết quả và biểu hiện của duy tâm nên họ chống chống bằng mọi giá - cứ đối lập với duy tâm là khoa học không cần biết sự đối lập này là đúng hay sai. Nhiều nhà khoa học duy tâm ( theo Thần học ) thì cũng NHẬN THỨC MƠ HỒ luân hồi là một khái niệm duy vật là biểu hiện nhận thức ( thô sơ thấp kém) của loài người về sự vận động của thế giới. Đối với họ thuyết luân hồi là phản động vì nó gạt vai trò của Thượng đế ra ngoài sự vận động của thế giới và con người. Theo họ phủ định Thượng đế là sai lầm đương nhiên cứ chống lại sự phủ định đó thì ta thành người đúng đắn thượng đế sẽ ban thưởng cho họ. Bởi vậy họ chống thuyết luân hồi quyết liệt và bằng mọi giá. Thượng đế buồn bã muốn chết luôn chỉ vì tại sao có nhiều người được coi là sản phẩm thông thái nhất của Thượng đế lại không hiểu nổi một chuyện đơn giản rằng luân hồi là một quy luật do chính Thượng đế tạo ra cho cái thế giới kỳ thú và cả cái loài người kỳ diệu này ?

Bạn muốn phê phán chống đối thuyết luân hồi hay bất cứ điều gì khác trong cuộc sống? Vâng cứ việc tự nhiên và hào hứng với với ý muốn đó của bạn đó cũng là điều cần thiết cho sự tiến bộ của loài người. Nhưng có lẽ để việc phê phán hay chống đối có kết quả thì việc đầu tiên phải kiên nhẫn quan sát thực tiễn và nghiền ngẫm nghiên cứu đối tượng mà mình sẽ phê phán. Kế tiếp là kiểm tra kỹ càng lại nhận thức kiến thức và tư duy của mình trước khi dùng nó vào công việc phản biện. Và sau khi phản biện phải bình tĩnh lắng nghe ý kiến người biện luận lắng nghe ý phản biện lại sự phản biện của mình.

Nhưng vấn đề quan trọng không chỉ dừng ở mức độ xác định có hay không có luật luân hồi. Mà quan trọng hơn nữa là nếu ta chấp nhận hoặc không chấp nhận có luân hồi thì nhân sinh quan của ta sẽ như thế nào có lợi có hại ra sao cho hoạt động sống cụ thể hàng ngày hàng giờ của một cõi trăm năm đời người ta đang trải qua? Chấp nhận hay phủ nhận luật nhân hồi đều là tiêu cực khi dựa trên những nhận thức đó mà ta có nhân sinh quan dị hợm . Có một sự thật cần được biết là tri thức và đạo đức của một con người được âm thầm củng cố phát triển trong quá trình nghiên cứu Luân hồi. Nếu việc nghiên cứu đúng đắn sẽ giúp ta có được tri thức và đạo đức đúng đắn dẫn đến có nhân sinh quan đúng đắn hoặc ngược lại. Vậy làm sao để việc nghiên cứu được đúng đắn? Câu trả lời là phải khách quan có trình độ và có đạo đức. Tính khách quan và trình độ đạo đức có được khi ta phải giải quyết và học hỏi muôn vàn quy luật xảy ra trong hoạt động thực tiễn chứ không chỉ có từ nghiên cứu luân hồi.

Khẳng định luân hồi hay phủ định luân hồi không quan trọng bằng khẳng định : Học học nữa học mãi – đời người sinh ra ra là để học sống có nghĩa là học. Học để có tri thức và có đạo đức bởi vì tri thức và đạo đức là chân và tay của sức mạnh con người. Sức mạnh đó giúp con người chìm và hòa tan vào thế giới hạnh phúc. Việc phản biện của tôi hướng đến mục đích trao đổi học hỏi để hoàn thiện tư duy lý luận cho hoạt động nghiên cứu khoa học chứ không nhằm mục đích khẳng định có luân hồi. Đối với tôi luân hồi là một quy luật khách quan nên cho dù bạn có khẳng định hay phủ định tin hay không tin thì nó vẫn bày ra đó như là một chân lý. Việc ra sức bảo vệ luật nhân hồi là một việc làm vô duyên không cần thiết.

Học là việc quan trọng bậc nhất của lý trí con người chính vì vậy ta phải chăm lo sự nghiệp giáo dục và phải biết ơn kính trọng trân trọng các nhà giáo. Vậy giáo dục là gì và những ai là nhà giáo? chúng ta cứ tư duy tiếp....

 

More...

Ấm áp rạng ngời nụ cười phiên chợ quê

By Trần Quang Đại

(Tamnhin.net) – Chợ quê nơi giao lưu trao đổi hàng hoá nơi bà con gặp gỡ chuyện trò lưu giữ những nét văn hoá truyền thống. Có dịp ghé chợ Mọ (xã Hậu Thành Yên Thành Nghệ An) tưởng như gặp lại hồn xưa của dân tộc qua những nét cười ấm áp rạng ngời của bà con dù cuộc sống vẫn còn rất nhiều gian khó.

 

alt
Đến chợ Mọ ngỡ như gặp nét hồn xưa của dân tộc

Chợ Mọ rất sơ sài có mấy dãy lán lợp ngói fibrôximăng xập xệ che thêm vải bạt nhưng chủ yếu bà con ngồi bán ngoài trời giữa khuôn viên vài trăm mét vuông. Nền chợ khấp khểnh đất sỏi. Có một số dãy phản để bán thịt còn hầu hết bà con bày hàng hoá ra đất.
   
Ở đây có đủ thượng vàng hạ cám đáp ứng nhu cầu hàng ngày của bà con từ áo quần dao rựa thịt cá đến cau trầu rau củ quả gia vị…Điều đáng nói là mỗi người bán một số lượng hàng hoá rất ít chủ yếu là sản vật của vườn nhà tự làm hoặc mua lại của bà con rồi bán. Giá cả cũng rẻ nơi đây chưa bị tác động bởi cơn bão giá quay cuồng trên thị trường. Chợ không đông người và rất đầm ấm. Không có chuyện nói thách cân điêu người bán người mua đều rất vui vẻ thân thiện. Nụ cười tươi luôn thường trực trên môi người bán hàng làm ấm lòng khách. Đến chợ Mọ ngỡ như gặp nét hồn xưa của dân tộc. 

alt

Một chị ngồi bán đót tươi bên đường. Đây là đót từ vườn rừng của gia đình giá 5 nghìn đồng/kg. Chị cho biết 2kg đót tươi là làm được một cái chổi to chắc chắn giá thị trường khoảng 20 nghìn/cái. Mỗi năm đót chỉ ra hoa một lần vào dịp Tết.

alt
Có nhiều người bán hoa đót nhưng mỗi người chỉ có khoảng vài cân hái được từ rừng nhà mình.

alt  

Tôi dừng lại mua ít quả cau và lá trầu về cho mẹ. Bà cụ bán hàng cho biết: Chợ Mọ họp một tháng 15 phiên vào các ngày 1-3-5-7-8. Cau 5 ngàn đồng/3 quả trầu 1 liền 2 ngàn đồng. Bà cụ cho biết mỗi ngày “lợi nhuận” khoảng 10 nghìn đồng đủ mua cho cụ cái bánh và cho con mèo ít cá thừa. Tuy vậy cụ hầu như chưa bỏ phiên chợ nào.

alt

Một chị tươi cười mời tôi mua rau cải: “Chú mua đi rau nhà chị trồng bảo đảm rau sạch. Giá rất rẻ 5 ngàn 3 bó”. Trời mưa phùn nên chị phải đội nón khoác áo mưa.

alt

Chị hàng thịt vừa thoăn thoắt cắt thịt vừa đon đả: “Chú mua ít thịt lợn quê về thành phố mà ăn cho ngon lợn không ăn cám cò đâu”. Giá khá rẻ: thịt thăn 70 nghìn đồng/cân lòng 50 nghìn đồng/cân thịt ba chỉ 50 nghìn đồng mỡ 15 nghìn đồng/cân….

alt

Dù đã hơn 80 tuổi cụ bà vẫn đi chợ bán bánh đúc. Cụ bảo chủ yếu đi cho vui. Mẹt bánh đúc của cụ chỉ có độ chục cái giá 1 nghìn đồng/cái. Cả vốn lẫn lãi cho một phiên chợ của cụ chỉ gói gọn trong 10 nghìn đồng.

alt

Bà Phạm Thị Trâm 62 tuổi quê xã Phúc Thành bán hàng xén. Chỉ vài be ruốc chai dầu ăn gói mì chính bột canh vài cái bật lửa dăm củ gừng…Tôi hỏi cụ mỗi buổi chợ có kiếm được vài chục nghìn không cụ cười: “Làm gì có chỉ đủ thức ăn cho hai ông bà thôi. Được như anh nói thì tôi đã giàu to rồi…”.

alt

Tranh thủ lúc chưa có khách một cụ bán hàng xén tiện quả cau để ăn trầu. Cụ bán lẻ một ít mật mía nước mắm và ruốc (mắm tôm) một gói ruốc giá 4.000 đồng.

alt
Tươi cười với khách hàng

alt
Bánh xèo được “sản xuất” và “tiêu thụ” tại chỗ giá 500 đồng/cái.

alt
Đậu phụ tự làm giá mỗi miếng đã rán chỉ 1 ngàn đồng.

alt

Một cụ ông bày bán đồ sắt chủ yếu do cụ tự rèn lấy. Giá mỗi chiếc dao quắm dài thép tốt 50 nghìn đồng. Cụ nói vì toàn bán cho người làng nên không thể làm dối.

alt

Một chị bán quần áo may sẵn chủ yếu hàng giá rẻ. Bà con ở xung quanh đều nghèo nên ít mua hàng của chị. Tuy nhiên chị vẫn rất vui thân thiện.

alt 

Có khá nhiều cá biển tôm tép biển rất tươi được bày bán. Tép biển 20 nghìn/kg tôm 70 nghìn/kg cá thì dao động từ 15 nghìn đến 35 nghìn/chục. Có loại cá ngon giá 70 nghìn/kg. Loại cá trong ảnh giá 35 nghìn đồng/chục con. Chị bán hàng cho biết cá ở đây được đưa về từ biển Diễn Châu. Những người đi biển về vừa cập bến là cá được chở thẳng lên đây nên rất tươi.

alt
Rau quả do bà con tự trồng tất cả đều “sạch” và được bày bán ngay trên mặt đất.

alt
         Trên đường đi chợ về

                                                                 

    Quang Đại – Hà Vy
 

More...

Chăm lo giáo dục trước thực trạng tăng giá !

By Trần Quang Đại

(Dân trí) - Thực trạng những mặt hàng thiết yếu cho cả sản xuất và đời sống như xăng dầu điện đều tăng và đang kéo theo một đợt tăng giá mới đã và đang tạo sức ép lên hầu khắp mọi mặt đời sống xã hội trong đó có giáo dục.
 >> Muôn cách “chống chọi” trong cơn bão giá của SV Huế

 alt

 
Muôn cách chống chọi trong cơn bão giá của SV Huế (ảnh: msinhvien.com)
 
Trước hết giá cả tăng cao trong khi đồng lương vẫn giữ nguyên khiến đời sống của một bộ phận không nhỏ giáo viên (GV) lâm vào khó khăn. Một GV cho biết: Anh ra trường đã 10 năm lương lúc mới ra trường là 400 nghìn đồng/tháng tương đương 1 chỉ vàng. Nay lương đã lên xấp xỉ 3 triệu đồng/ tháng nhưng chưa mua được một chỉ vàng.

 

Như vậy sau 10 năm dù đã qua nhiều lần tăng lương thu nhập thực tế của GV đã giảm sút. Mọi thứ chi tiêu lại tăng lên nhiều đơn cử như giá hộp sữa cho con nhỏ tiền chi tiêu cho bữa ăn hằng ngày tiền điện tiền xăng dùng cho việc đi lại …mọi thứ đều tăng khiến không ít GV không thể cân đối được thu chi phải chạy vạy nợ nần.

 

Những GV mầm non vùng sâu vùng xa GV hợp đồng… cuộc sống vốn đã khó lại càng thêm khó. Đồng lương thấp GV không có điều kiện để đầu tư cho chuyên môn không yên tâm công tác sức khoẻ và tâm lý của GV đều bị ảnh hưởng. Hệ luỵ là chất lượng giáo dục sẽ bị suy giảm.

 

Một GV tâm sự: “Mình không đòi hỏi giàu sang nhưng thu nhập cũng phải ở mức đủ sống để có tư thế đàng hoàng đĩnh đạc trước học trò”.

 

Đối với học sinh (HS) lạm phát sẽ khiến chi phí

Ý kiến của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn Dân trí qua địa chỉ e-mail:thaolam@dantri.com.vn

học tập tăng cao thực sự là gánh nặng đối với những gia đình nghèo. Năm nay thời tiết rất khắc nghiệt hết hạn hạn lụt bão rét đậm rét hại chưa từng có kéo dài từ trước Tết đến nay lại thêm dịch bệnh hoành hành nhiều gia đình nông dân lâm vào cảnh trắng tay.

 

Một số em phải bỏ học để đi làm phụ giúp gia đình. Đã xuất hiện hiện tượng HS bỏ học vì cuộc sống quá khó khăn. Ở Nghệ An đến ngày 20/2/2011 đã có gần 2.000 HS bỏ học vì hoàn cảnh khó khăn trong đó có 1.130 em HS THPT 600 em HS THCS 16 em học TH.

 

Thời gian gần đây có rất nhiều HS ở các huyện Mường Lát Quan Hóa Quan Sơn (Thanh Hoá) đã bỏ học để đi hái cây đót cây bông lau bán kiếm tiền phụ giúp gia đình.  Ở các địa phương khác tuy chưa có thống kê cụ thể nhưng hiện tượng HS bỏ học vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn là không thể tránh khỏi. Đây là hiện tượng đã diễn ra nhiều năm và cho đến nay chúng ta vẫn chưa có giải pháp chấm dứt.

 

 Đối với học sinh sinh viên (HSSV) các trường chuyên nghiệp cũng đang khốn đốn vì chi phí học tập sinh hoạt tăng cao từ giá nhà trọ cho đến điện nước thực phẩm tàu xe…Việc chi tiêu hạn hẹp ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ tâm lý HSSV. Một số sinh ra chán nản tiêu cực phát sinh tệ nạn xã hội như trộm cắp cờ bạc rượu chè…

 

Giá cả các mặt hàng tăng cao khiến cho các nhà trường gặp nhiều khó khăn. Việc xây dựng cơ sở vật chất mua sắm trang thiết bị…đều vượt so với dự toán một số công trình không triển khai được. Những công trình đã xây dựng thì bị đội giá lên cao. Có trường khi xây dựng nhà học cao tầng (kinh phí thu từ nguồn xã hội hoá) gặp đợt “bão giá” giá cả đội lên gần gấp đôi so với giá dự tính ban đầu đến nay trường đã xây xong mấy năm một số hạng mục đã xuống cấp mà nợ vẫn còn nhiều chưa biết khi nào mới trả hết.
 

Giá phòng tăng sinh viên càng phải ở ghép khiến không gian sống càng thêm chật chội (ảnh: tinmoi.vn)

 

Thiết nghĩ ngành giáo dục và toàn xã hội cần có những giải pháp hỗ trợ giáo dục chống suy giảm chất lượng giáo dục trong điều kiện lạm phát. Ví dụ: Bộ chuẩn nghèo và cận nghèo vừa mới ban hành nên có phương án cộng vào tỷ lệ phần trăm lạm phát để mở rộng đối tượng được nhà nước hỗ trợ giảm bớt khó khăn cho người dân.

 

Các trường cần thống kê báo cáo lên cơ quan quản lý giáo dục số lượng HSSV đang gặp khó khăn có nguy cơ bỏ học để tìm phương án hỗ trợ. Vận động các doanh nghiệp các nhà hảo tâm giúp đỡ tạo điều kiện cho những HS đã bỏ học vì khó khăn trở lại trường.

 

Các trường chuyên nghiệp CĐ ĐH cần phối hợp với chính quyền địa phương để giảm chi phí nhà trọ điện nước cho sinh viên kiên quyết chống tình trạng lợi dụng lạm phát để tăng giá điện nước giá nhà bất hợp lý.

 

 Trong khi Nhà nước chưa điều chỉnh lương ngành giáo dục và chính quyền địa phương cần có sự hỗ trợ thiết thực đối với những GV mới ra trường những GV mầm non vùng sâu vùng xa GV gặp khó khăn như những năm trước.

 

                                            Trần Quang Đại

                                                 (Hà Tĩnh)

 

LTS Dân trí-Việc tăng giá xăng dầu và giá điện dù mới là đợt tăng đầu tiên chưa đủ bù lỗ (theo nhận định của Bộ Tài chính) tuy nhiên đã kéo theo sự tăng giá của nhiều mặt hàng thiết yếu đối với đời sống ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân có mức thu nhập thấp trong đó có không ít giáo viên và học sinh vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.

 

Trong hoàn cảnh khó khăn đó các cấp chính quyền cũng như ngành giáo dục cần quan tâm nhiều hơn đến việc chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo viên nhất là giáo viên mầm non giáo viên mới ra trường dạy học theo hợp đồng tạm thời; lực lượng  giáo viên và học sinh ở những vùng sâu vùng xa là những đối tượng cần được quan tâm trước hết.

 

Đời sống thầy và trò có được bảo đảm thì sự nghiệp giáo dục mới có điều kiện phát triển ổn định.

More...

ĐI TÌM BÍ KÍP

By Trần Quang Đại

                

                                                Thầy TRẦN ĐÌNH TRỢ

 

Đã đến mùa luyện thi ĐH. Tất cả mọi người mọi thành phần của hệ thống giáo dục chúng ta đều muốn truy tầm được một “bí kíp võ công” để công cuộc “luyện công” mau thành chính quả. Đó cũng là mục tiêu của cuộc hội thảo này.

   Muốn tìm được “bí kíp” trước hết phải xác định mục tiêu hết sức cụ thể.

   Tôi xin bắt đầu bằng câu chuyện sau:

 Phú ông nọ có mươi cô con gái.  Các cô hình thức tính cách khác xa nhau nhưng cùng vừa đến tuổi cập kê. Phú ông mời gấp một bà mối - gia sư nhờ “luyện thi” chung cho các cô con gái. Mục tiêu chung là để các cô kiếm chồng. Hai bên ngồi xem xét các mục tiêu cụ thể:

- Tất cả phải lấy được chồng tất cả rể đều tuyệt vời.

- Chỉ cần tất cả lấy được chồng.

- Mấy cô lấy được chồng cũng được nhưng chồng phải rất tuyệt vời.

- Thứ hạng của các rể nhà cao hơn rể hàng xóm.

- Tìm cách “phát huy năng lực từng đứa con” để chúng lấy được người chồng tương xứng.

- Làm sao để Bà mối - Gia sư được nhiều tiền công.

 Câu chuyện trên có sự tương đồng với nội dung cuộc hội thảo này.

- Đậu ĐH vừa nhiều vừa cao (mục tiêu ảo tưởng)

- Đậu nhiều (mục tiêu quá xoàng) Ngày nay mấy điểm thì vào được ĐH?

- Có nhiều em đậu cao (mục tiêu bất công) (chỉ chú ý đối tượng học giỏi bỏ rơi hs yếu) Thử hỏi các đề thi GV GVG HSG khó hay dễ mà chất lượng làm bài như thế nào?

- Xếp thứ hạng cao (mục tiêu sĩ diện hão) (không phụ thuộc ta - phụ thuộc họ và cách xếp thói quen làm hồ sơ)

- Phát huy hết khả năng của từng đối tượng (mục tiêu hiện thực)

Việc luyện thi ĐH còn có một mục tiêu khó nói nữa là: Thu tiền để nuôi người dạy.

1) Nước đến chân

   Dạy học cũng giống chuyện làm nông. Vậy tôi xin nói chuyện cày bừa. Quy trình là: cày đi ngâm ải bừa dập ngâm ải cày trở bừa cấy.Trong đó ngâm ải phải đủ thời gian ải đất. Bừa là quan trọng nhưng cày đóng vai trò quyết định bừa cấy sau cùng chỉ là khâu lấy mặt phẳng để cấy lúa. Nếu chỉ lo mỗi việc bừa cấy thật kỹ thì gốc rạ cũ chắc chắn sẽ chong lên theo lúa mới.

   Toán học (các môn học khác cũng thế thôi) cũng là môn học nặng về thực hành. Giống như thể thao: chạy bơi lái xe đánh cờ.... Giả sử chúng ta dạy bơi mà chỉ lo việc dạy lý thuyết. Hết dùng phấn trắng bảng đen lại cải tiến dùng Power Point chiếu đi chiếu lại các kiểu bơi. Hiển nhiên là đến khi xuống nước vận động viên sẽ chìm nghỉm (ba ngày sau có thể sẽ nổi lên ở đâu đó).

  Thời điểm này các cầu thủ khối 12 chỉ cách thời điểm thi đấu 4 tháng.

  Nếu bấy lâu các cầu thủ rong chơi thời gian ngắn ngủi này họ có thể làm được gì?

   Nếu ruộng đã được cày dối bừa ẩu thì nay cày bừa lại từ đầu còn kịp không?

  Vậy là nước đã đến chân nếu bắt đầu lại từ đầu thì quả là “vô kế khả thi”.

 Nhưng với những thuở ruộng đã được cày sâu bừa kỹ thì sao?. Với những cầu thủ bấy nay đã tích cực rèn luyện thì sao?.

  Có bí kíp hay kinh nghiệm luyện tập giai đoạn nước rút cho họ không? Làm thế nào để “điểm rơi phong độ” rơi đúng vào thời điểm thi đấu?

2) Bí kíp dạy luyện thi: Không dạy

 Có hay không một “bí kíp - kinh nghiệm” luyện thi nước rút?

 Theo tôi là có và “kinh nghiệm- bí kíp” đó vắn tắt trong hai chữ “KHÔNG DẠY”.

Có kịp không nếu ta cày bừa lại từ đầu?

“Điểm rơi phong độ” sẽ rơi vào đâu nếu ta tập trung cầu thủ lại giảng đi giảng lại về lý thuyết lại bắt họ luyện ngày luyện đêm?

Có lợi cho học sinh không nếu ta cày đi cày lại kiến thức vài lần nữa?

Câu trả lời là không vì không đủ sức và thời gian.

Công việc nên làm là: Hướng dẫn cho họ tự luyện tập với nhau.

 Từ đó rút ra bí kíp là không nên dạy nữa mà nên tổ chức hướng dẫn cho học sinh tự ôn luyện tùy theo sức.

Một vài kết quả và kinh nghiệm thực hiện bí kíp của bản thân.

Tháng 2-2004 tôi được Sở “tăng cường” về LHT I nhận dạy toán 11A. Sang năm sau đội tuyển HSG toán xếp thứ 2 tỉnh thi ĐH đậu 50/55 em. Có 4 em từ 27đ trở lên (Liêm Sơn Sỹ Thương) có 1 em 29 5đ (Liêm). Tháng 9/2006 trở về HS nhận lớp 10A1 đội tuyển 10A1 thứ 1 tỉnh lên 12A1 đậu ĐH 52/57 em 5 em đạt 27đ trở lên (Lai Trang Công Hằng Hiệp) trường HS lọt vào DS 200 trường có điểm cao toàn quốc.

    Công việc cày bừa của tôi là: suốt 3 năm cày sâu bừa kỹ. Khi luyện thi: dùng bí kíp “không dạy” chỉ tổ chức cho HS tự luyện. Lập nhóm cán sự từng môn: toán lý hóa gồm những HS xuất sắc. Tham mưu cho các em tự tuyển đề cả 3 môn tổ chức tự thi tự chấm liên tục. Thầy chỉ cố vấn bổ cứu những sai lầm. Quản lý theo dõi điểm chính xác đánh giá đúng thực chất tham mưu tốt việc chọn trường. Cách làm đó đã lôi cuốn nhiều HS khối A của các trường lân cận như CT LHT1 LHT2 trong đó có nhiều học sinh xuất sắc như Trần Quốc Luật Phạm Quang Hiệu... Số bộ đề thi phát ra mỗi lần lên đến 400 bộ số lần làm đề tự luyện là 20 lần.

  Với cách luyện ấy các kì thi 2006 và 2009 mụ mối đã “gả hết” các cô gái cho các chàng rể tương xứng. Theo đánh giá của các hiệu trưởng đương nhiệm mẻ ĐH của trường LHT I năm 2006 và của trường HS năm 2009 là mẻ ĐH đậu cao và nhiều nhất trong những năm gần đây.

3) Bi kịch của mối

  Hóa ra bí kíp trên cũng chẳng có vẻ gì là huyền bí như các “bí kíp võ công”. Mọi người đều có thể nhận ra sự đúng đắn của nó. Tính “khả tri” của nó quả rất cao nhưng tính “khả thi” của nó lại rất thấp.

 Vì sao vậy?

 Trong hai lớp học mà tôi đã áp dụng “bí kíp” trên tuyệt đại bộ phận HS là con nông dân nghèo. Số học sinh điểm cao thì toàn bộ đều con nông dân trong 9 em điểm trên 27 có 6 em thuộc diện hộ nghèo.

      Nếu dạy bài mới còn có thể thu học phí. Nếu hướng dẫn tự ôn hoàn toàn không có cách gì để thu phí. Thi HSG thầy còn phải vận động thuyết phục thậm chí trả tiền nợ quán để động viên trò. Kinh phí thi thử ĐH cả 3 môn là 5 ngàn chưa đủ tiền photo đề thi. Việc tuyển đề hướng dẫn tổ chức thống kê đành phải coi là những việc không công. 

  Thực trạng trên mang tính phổ biến. Cũng có một thực trạng phổ biến nữa là  chủ nghĩa bình quân và vị kỷ trong ăn chia đã tước mất quyền tước mất thời gian tước mất tiền bạc của học sinh. Các em không thể theo học nơi đáng học.

  Những thuở ruộng đám thợ cày yếu cả tâm lẫn năng đã cày dối bừa ẩu quanh năm. Khi sắp xuống mạ dù có hỏi đến các lão nông  cũng làm sao có được mùa màng bội thu.

   Bởi vì đáng chỉ bừa nhẹ nhàng để cấy chúng ta buộc cày lại. Có khi còn cày sâu hơn cày cho đất đỏ đất đen tróc lên để dễ tính công. Cũng có kẻ bừa đi bừa lại cho đục nước lên. Ruộng chưa ngấu nhưng cá tôm thì nổi lên lềnh phềnh. Chỉ có những thuở ruộng đã cày sâu bừa kỹ may ra mới có thể sử dụng bí kíp “không dạy” nói trên.

   Sử dụng bí kíp hiệu quả sẽ làm cho kẻ cười người khóc. Phú ông vui mừng đã gả con những nơi xứng đáng. Các cô gái phấn khởi vì lấy được chồng như ý. Các bà mối đóng vai trò quan trọng thì không được tính tiền công.

   Đó chính là bi kịch của mối : thực hiện bí kíp  thì hiệu quả cao nhưng không có tiền. Không cần dùng bí kíp dù hiệu quả thấp nhưng công việc khỏe hơn và  được trả tiền.      

   Vì vậy cứ sắp đến kỳ chọn rể phú ông lại nôn nóng các cô gái lại cuống quýt mụ mối - gia sư thì cần tiền. Thế là cứ phải tập trung lại ngày đêm ôn tập về công dung ngôn hạnh nữ công gia chánh. Dù biết rằng nếu cứ tùy sở trường sở đoản từng cô “phát huy tính tích cực” cho các cô làm việc thì hiệu quả sẽ cao hơn.

   Nhưng nếu vậy khi lấy được chồng ai cũng cho là do tình yêu. Mụ mối sẽ bị quỵt tiền công lấy gì để nuôi thân. Phú ông vốn ki bo chỉ biết hô hào thúc giục việc trả công lại mặc kệ con cái. Chính vì vậy “bí kíp” trên là nan khả thi và bi kịch của mối là kéo dài muôn thuở.

  Nhưng vẫn có cách giải thoát bi kịch cho mối đó là dùng “Siêu bí kíp” dành riêng cho họ: "Nhờ người khác làm mối để mụ mối lấy ngay phú ông !"

More...